Nữ trí thức Việt Nam và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước

18/10/2020
Tại Đại hội thi đua yêu nước Hội LHPN Việt Nam lần thứ IV, Hội Nữ trí thức Việt Nam đã có tham luận "Nữ trí thức Việt Nam và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước". Cổng TTĐT Hội LHPN Việt Nam xin đăng toàn văn tham luận.
GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu, đại diện Hội Nữ trí thức Việt Nam nhận bằng khen của TW Hội LHPN Việt Nam do Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam Hà Thị Nga trao tặng

Vai trò của phụ nữ nói chung và nữ trí thức nói riêng ngày càng được xã hội công nhận và khẳng định. Nữ trí thức đóng góp, cống hiến trí tuệ, sức lực của mình trên mọi mặt trận, mọi lĩnh vực, từ các lĩnh vực sở trường như giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế đến các lĩnh vực “ưa phái mạnh” như công nghiệp nặng, an ninh, quốc phòng… 

1. Vai trò, đặc điểm của nữ trí thức Việt Nam

Cách mạng Tháng Tám thành công, trong chế độ mới, trường đại học đã mở rộng cửa đón nhận phụ nữ. Nếu như trước đây phần lớn nữ trí thức xuất thân từ các gia đình công chức, trí thức thì ngày nay có sự đa dạng về nguồn gốc xuất thân của nữ trí thức Họ đến từ nhiều giai tầng xã hội, nhất là từ gia đình công nhân, nông dân. Càng ngày, cơ hội học tập, nghiên cứu, làm việc càng mở ra cho phụ nữ. Nhận thức về việc cần vươn ra hòa nhập với xã hội đã khiến người phụ nữ tự tìm kiếm cho mình những con đường cống hiến cho xã hội và thể hiện bản thân.

Từ sau ngày đất nước thống nhất, đội ngũ nữ trí thức Việt Nam đã lớn mạnh nhanh chóng và phát triển thành một lực lượng lao động hùng hậu. Trước hết, trong lĩnh vực quản lý, nữ trí thức đã tham gia vào phần lớn các cấp lãnh đạo các cơ quan dân cử, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp nói chung và từ cấp tỉnh trở lên.

Trong lĩnh vực Khoa học và công nghệ, số lượng phụ nữ chiếm tỉ lệ khá cao, khoảng hơn 42 %. Ở một số ngành như giáo dục - đào tạo, tỷ lệ này lên đến 53,2%. Ở các trường Đại học lớn, tỉ lệ nữ cán bộ giảng dạy, có trình độ đại học trở lên khá cao, gấp nhiều lần so với những năm ở nửa cuối thế kỷ XX.

Nữ trí thức cũng đã thành đạt trong lĩnh vực kinh doanh, như các chị Nguyễn Thị Anh Nhân, Nguyễn Thị Hòe... Hoặc trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ đạt hiệu quả kinh tế lớn như Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới Nguyễn Thị Trâm đã chuyển nhượng giống lúa lai hai dòng với giá 10 tỷ đồng.

Trong nghiên cứu khoa học, nữ trí thức thuộc các thế hệ khác nhau làm chủ nhiệm các nhiệm vụ nghiên cứu cấp Nhà nước, hoặc các nhiệm vụ thuộc các chương trình trọng điểm cấp Nhà nước cũng cao hơn trước, và đã đạt nhiều kết quả tốt về mặt khoa học cũng như triển khai ứng dụng thực tế, đã được xã hội ghi nhận. Nhiều chị đã được tôn vinh trong nước và quốc tế, được nhận các giải thưởng khoa học như: Giải thưởng Nhà nước về Khoa học – Công nghệ, giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng quốc tế hay các giải thưởng của Quỹ nước ngoài (Quỹ Kovalevskaia, Quỹ L’Oreal-UNESCO) dành cho các nhà khoa học nữ.

Hơn ba mươi năm qua, hơn 69 tập thể và cá nhân đã được nhận giải thưởng Kovalevskaia (trong đó có 49 cá nhân và 20 tập thể) dành cho nhà khoa học nữ xuất sắc thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và toán học. Các giải thưởng không chỉ ghi nhận những thành công về mặt khoa học mà còn được phát triển, ứng dụng tạo ra nhiều sản phẩm cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu.

Xét về phân bố ngành nghề, sự phân bố đội ngũ nữ trí thức khá đa dạng, ở hầu khắp các lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội. Phần lớn nữ trí thức làm việc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo (64%), khoa học xã hội, nhân văn (58%), khoa học sự sống (55%), báo chí thông tin và chế tạo, chế biến (46%). Nữ trí thức ít làm việc trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, an ninh, quốc phòng (3,0%), vận tải (10,4%), mỏ và khai thác (10,6%), xây dựng và kiến trúc (12%).

Sự khác biệt trong phân bố ngành nghề phản ánh quan niệm của xã hội, khuôn mẫu giới về loại hình nghề nghiệp phù hợp với phụ nữ. Cùng với đó, luật pháp và chính sách xã hội cũng góp phần chi phối sự khác biệt này.Về phân bố vùng miền, đội ngũ nữ trí thức còn có sự chênh lệch lớn số lượng và trình độ. Phần lớn nữ trí thức (và trí thức ở nước ta nói chung) tập trung ở các vùng đồng bằng, nơi có nhiều thành phố, đô thị lớn. Các vùng nông thôn nơi hiện có 70% dân số cả nước, ngược lại có rất ít nữ trí thức. Nữ trí thức ở các vùng nông thôn có trình độ cử nhân chỉ chiếm tỷ lệ 20% đến 25% so với đô thị, với nhóm có trình độ sau đại học, tỷ lệ này còn thấp hơn nữa.

Điều này dẫn đến một nghịch lý: Các vùng nông thôn, vùng cao, vùng xa có nhu cầu cao về nguồn nhân lực chất lượng cao thì lại thiếu vắng, trong khi ở các vùng đô thị, đồng bằng dân trí cao thì lại tập trung nhiều nữ trí thức, các nhà khoa học. Chính sự phân bổ bất cân xứng về nguồn lực trí thức như vậy, là một nguyên nhân dẫn đến sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền ở nước ta hiện nay.

Một điểm đáng lưu ý trong đội ngũ nữ trí thức, đó là tỷ lệ nữ trí thức là người các dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ rất thấp, đặc biệt ở một vài dân tộc như Mạ, Xtiêng, Tà ôi, nữ trí thức chỉ đếm trên đầu ngón tay, chỉ có 1-2 người có bằng cao đẳng, đại học trên hàng vạn dân. Nhiều dân tộc chưa có nữ tốt nghiệp cao đẳng, đại học như: Kháng, La Hủ, Lự, Lô Lô, Mảng, Pu Péo, Brâu, Ơ Đu, Rơ măm. Những dân tộc này, sau mười năm, qua hai cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở 1989 đến 1999, tình hình nữ trí thức vẫn không có gì thay đổi.

Từ phía chính sách xã hội, cần quan tâm, ưu tiên đào tạo đội ngũ trí thức dân tộc ít người, bên cạnh đó, có chính sách hậu đãi trí thức nói chung và đặc biệt nữ trí thức làm việc ở miền núi, vùng xa, khó khăn. Có như vậy, mới có thể khắc phục dần sự mất cân đối về đội ngũ trí thức ở các vùng miền.

2. Đóng góp của nữ trí thức

Với lực lượng ngày càng đông đảo,  nữ trí thức đang dần khẳng định vai trò, vị thế của mình và  có những đóng góp quan trọng  trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội và đời sống của đất nước.

Tính từ năm 1980 đến nay, qua 26 đợt xét duyệt, đã có rất nhiều nữ trí thức được công nhận giáo sư, phó giáo sư. Hiện có 59 nữ giáo sư trên tổng 1.798 giáo sư của cả nước (chiếm 3,2%) và 2.039 nữ phó giáo sư trên tổng số 11.655 (chiếm 17,5%). Nhiều Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú, Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Thày thuốc nhân dân, Thầy thuốc ưu tú, Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, đặc biệt là những giám đốc điều hành (CEO) tài ba, mà tên tuổi doanh nghiệp của họ được ghi dấu trên bản đồ thế giới… là phụ nữ. Sự ra đời của Hội Nữ trí thức Việt Nam cũng là một khẳng định cho sự lớn mạnh và vai trò đặc biệt quan trọng của mạng lưới các nữ trí thức Việt Nam, từ đó thúc đẩy sự phát triển của phụ nữ, giúp họ mang tiếng nói, trí thức làm cho cuộc sống tốt đẹp và có ý nghĩa hơn.

Theo một công trình khoa học về “Vai trò và vị thế của nữ trí thức Việt Nam trong phát triển bền vững” đã được công bố năm 2018, giáo dục đào tạo và y tế là 2 lĩnh vực mà nữ trí thức gặt hái được nhiều thành công, thỏa sức sáng tạo và cống hiến năng lực của mình.

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, nữ trí thức chiếm tỷ lệ áp đảo so với nam trí thức ở nhiều bậc học. Về trình độ chuyên môn, tỷ lệ nữ trí thức có học hàm, học vị cao ngày càng tăng và phổ quát trong đội ngũ nữ trí thức làm nghề giáo ở tất cả các cấp học, hệ đào tạo.

Một trong những hoạt động thể hiện vị thế của nữ trí thức trong công tác giáo dục và đào tạo là việc tham gia hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho các học viên trong các hệ đào tạo từ đại học đến tiến sĩ.

Cũng giống như trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, số lượng nữ trí thức tham gia trong hoạt động nghiên cứu khoa học ngày càng tăng. Về chất lượng, khả năng nghiên cứu khoa học và công nghệ của nữ trí thức Việt Nam ngày càng được nâng cao, thông qua các tiêu chí: trình độ chuyên môn, tỷ lệ tham gia các loại hình đề tài nghiên cứu khoa học; năng lực nghề nghiệp; tham gia hội thảo khoa học trong nước và quốc tế…

Ngoài ra, trong lĩnh vực kinh tế nữ trí thức đã không ngừng học hỏi, vận dụng những kinh nghiệm của mình và đã có mặt ở hầu hết các thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân… Đội ngũ nữ trí thức, nữ doanh nhân đã không ngừng trưởng thành, đóng góp tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Họ đã và đang khẳng định vai trò của mình trong cuộc chấn hưng kinh tế đất nước, đặc biệt, góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước, góp phần xoá đói, giảm nghèo, bảm đảo an sinh xã hội… xứng đáng với tám chữ vàng của Nhà nước trao tặng phụ nữ Việt Nam thời kỳ đổi mới: “Trung hậu - đảm đang - tài năng - anh hùng”.

Cùng với sự gia tăng về số lượng, vị trí quan trọng của nữ doanh nhân ngày càng được khẳng định trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Tính đến tháng 3-2017, theo Báo cáo về chỉ số nữ doanh nhân 2017 (Mastercard Index of Women Entrepreneurs – UIWE) do Mastercard công bố ngày 7-4-2017, Việt Nam xếp thứ 19 trong bảng xếp hạng chỉ số nữ doanh nhân và xếp thứ 7 trong số các nước có tỷ lệ chủ doanh nghiệp là nữ cao nhất. Hiện nay, tỷ lệ nữ doanh nhân Việt Nam đã ở mức 27% và xét về chỉ số nữ doanh nhân do Mastercard đánh giá năm 2019, chúng ta xếp hạng 19 trong số 58 nước được khảo sát trên toàn thế giới1.

Ngoài những nữ doanh nhân đang trực tiếp lãnh đạo, quản lý các doanh nghiệp sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động… còn một bộ phận khá lớn nữ trí thức, những nhà khoa học nữ bằng việc ứng dụng nghiên cứu khoa học vào việc phát triển kinh tế hộ gia đình, góp phần xóa đói, giảm nghèo. Đồng thời, trực tiếp bồi dưỡng kiến thức khoa học, kỹ thuật cho người dân, giúp họ tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững, nhất là người dân ở vùng nông thôn, miền núi. Không chỉ tham gia vào quá trình đào tạo nghề cho người nghèo, nữ trí thức còn tham gia xây dựng mô hình gắn dạy nghề với giới thiệu việc làm đối với lao động nghèo, lao động dân tộc thiểu số.

3. Nữ trí thức cần sự đồng hành của xã hội

Dù đã từng bước khẳng định được vai trò, vị trí của mình song nữ trí thức Việt Nam vẫn có những rào cản, thách thức đáng kể. Đó là định kiến giới trong văn hóa truyền thống; khung chính sách, luật pháp về vai trò, vị thế của nữ trí thức trong sự phát triển bền vững; rào cản từ chính bản thân nữ trí thức và gia đình.

Để đội ngũ nữ trí thức Việt Nam tiếp tục có cơ hội được học tập, nghiên cứu, nâng cao năng lực, cần sự quan tâm hơn nữa từ phía Đảng, Nhà nước, các tổ chức nghề nghiệp cũng như sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người phụ nữ nói riêng. Nữ trí thức luôn cần sự đồng hành hơn nữa của cả xã hội.

Theo đó, cần tăng cường, nâng cao nhận thức cho cộng đồng, các cấp lãnh đạo, quản lý, nam trí thức và chính nữ trí thức về vai trò, vị thế của nữ trí thức trong phát triển bền vững hiện nay. Cần tiếp tục tăng cường và đa dạng hóa hơn nữa các hình thức giáo dục bình đẳng giới cho toàn xã hội về tầm quan trọng của thực hiện bình đẳng giới đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, xóa bỏ định kiến giới trong gia đình và xã hội.

Đồng thời cần bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật về vai trò, vị thế của nữ trí thức, trong đó tập trung khắc phục rào cản liên quan đến độ tuổi nghỉ hưu; chính sách về tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động nữ.

Cần phát triển hơn nữa mạng lưới Hội Nữ trí thức ở các tỉnh, thành phố và tạo điều kiện thuận lợi để mạng lưới các tổ chức Hội Nữ trí thức hoạt động có hiệu quả. Mặt khác, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam cũng nên chú ý khai thác nhiều hơn nữa lực lượng nữ trí thức tạo điều kiện để Hội Nữ trí thức tham gia vào các công việc của Hội Liên hiệp phụ nữ, ví dụ việc đào tạo, phổ biến kiến thức khoa học - công nghệ... cho phụ nữ.

Ngoài những giải pháp chính sách, bản thân nữ trí thức cần “vượt lên chính mình”. Chính người phụ nữ cần đi tiên phong, gương mẫu, chủ động tích cực hưởng ứng và tham gia vào các phong trào hoạt động của phụ nữ. Cần có ý thức cầu tiến vươn lên, giúp nhau cùng tiến bộ, tôn vinh lẫn nhau thì mới tận dụng có hiệu quả cao những cơ hội có được. Cần nhận rõ vai trò của phụ nữ trong gia đình, phấn đấu trở thành người thầy có trình độ, gương mẫu cho con trẻ trong nhà; là người chủ biết tổ chức gia đình một cách khoa học, bảo đảm hài hòa giữa sự nghiệp và gia đình để có cuộc sống bình yên, thanh thản, thoải mái về tinh thần – một trong những yếu tố quan trọng, ảnh hưởng lớn đối với sự nghiệp của phần lớn phụ nữ, nhất là phụ nữ lao động trí óc./.

1 Theo kết quả nghiên cứu lần thứ hai về Chỉ số phát triển nữ doanh nhân của Mastercard.

Hội Nữ trí thức Việt Nam

TÂM ĐIỂM

CÁC ĐỀ ÁN

Video