Thực thi Luật phòng chống bạo lực gia đình vào cuộc sống

08/01/2011
Một chặng đường dài chưa có điểm kết thúc

Có thể nói, trong quá trình hoàn thiện và thực thi  chính sách pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền phụ nữ, chưa có bộ luật nào thu  hút sự quan tâm và song hành của các  tổ chức phi chính phủ như Luật Phòng chống Bao lực gia đình. Ngay từ những bản dự thảo đầu tiên cho tới khi thông qua Luật tại kỳ họp  thứ 2, Quốc hội khóa XII năm 2007, các  chuyên gia hoat động trong lĩnh vực bảo vệ quyền phụ nữ, những người trong cuộc  đã có những đóng góp tích cực cho việc hoàn thiện và thông qua luật. Đây cũng  là bộ Luật đầu tiên mà sau hơn 1  năm  chính thức có hiệu lực, công tác giam sát, đánh giá viêc thực thi Luật đã đươc triển khai thí điểm tại 5 tỉnh, thành phố của Việt Nam là: Hưng Yên, Hòa Bình,  Yên Bái, Điện Biên và Lai Châu. Điểm khác biệt của đánh giá này là do tập thể  các tổ chức thành viên DOVIPNET thực hiện - những tổ chức đang hoạt động trong  lĩnh vực quyền phụ nữ và phòng chống bạo lực đối với phụ nữ tại Việt Nam. Đánh  giá này nhằm phát hiện những điểm tích cực trong việc thực thi Luật PCBLGĐ,  đồng thời chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong việc hỗ trợ những nạn nhân của  bạo lực gia đình. Đánh giá cũng đưa ra những khuyến nghị tới các ban ngành chức  năng và cộng đồng để Luật PCBLĐ được áp dụng hiệu quả vào cuộc sống, đặc biệt  là trong việc hỗ trợ những người bị bạo lực. Chúng tôi muốn trích lược một số  kết luận và khuyến nghị được đề xuất dựa vào báo cáo đánh giá như sau:


1. Nhận thức về Luât phòng chống bạo lực gia đình.

Nhìn lại Luật phòng chống bạo  lực gia đình sau một năm có hiệu lực có thể  thấy về cơ bản người dân và các cán bộ chính quyền ban ngành đoàn thể đã ít nhiều có cách nhìn đúng về bạo lực gia đình. Tuy  nhiên, bên cạnh đó cũng còn có nhiều người chưa nhận thức đầy đủ về vấn đề bạo  lực gia đình. Xu hướng quan niệm bạo lực gia đình là chuyện riêng của mỗi nhà và đánh vợ chỉ là cách giáo dục vợ dẫn tới thái độ coi nhẹ các hành vi liên  quan đến bạo lực gia đình, làm tổn thương tới phụ nữ nói riêng và nhóm yếu thế  nói chung. Mặc dù luật Phòng chống bạo lực ra đời và có hiệu lực được hơn một  năm nhưng phần lớn người dân vẫn chưa coi bạo lực trong gia đình là vấn đề xã  hội. Trong nhận thức của những người tham gia vẫn còn tồn tại những hiểu lầm  mang tính định kiến về nguyên nhân gây ra bạo lực (nguyên nhân về kinh tế, thất  học, khó khăn, rượu, ma túy v.v.). Mọi người chưa nhìn nhận được nguyên nhân  gốc rễ của bạo lực gia đình là do bất bình đẳng giới cũng như sự phố biến của  vấn đề này.

 2. Công tác truyền thông về Luật  phòng chống bạo lực gia đình

Công tác truyền thông tại địa  bàn nghiên cứu đã bước đầu có hiệu quả khi khá nhiều người được hỏi biết về  Luật phòng chống bạo lực gia đình. Các hình thức truyền thông phổ biến chủ yếu  thông qua loa truyền thanh và lồng ghép vào một số chương trình truyền thông  khác nhau tại địa bàn. Một số nơi đã có sáng tạo khi đưa các hình thức truyền  thông hấp dẫn, thu hút người dân như truyền thông qua tiểu phẩm, qua các phiên  tòa xét xử lưu động. Tuy nhiên phần lớn người dân và cán bộ tại địa phương chưa  hiểu đúng và rõ về luật phòng chống bạo lực gia đình.

Trong công tác truyền thông về  Luật PCBLGĐ, phụ nữ vẫn đảm nhiệm vai trò chính và họ cũng là thành phần chủ  yếu đón nhận những thông tin có liên quan. Hầu hết nam giới và những người gây  bạo lực còn khá thờ ơ và thậm chí đứng ngoài cuộc trong việc tiếp thu thông tin  và truyền thông tin tới những người xung quanh trong cộng đồng. Điều đó chưa  tạo ra những tác động toàn diện trong phòng ngừa và xử lý BLGĐ.

Bên cạnh đó, một số vấn đề  đang là rào cản và thách thức trong công tác truyền thông về BLGĐ là năng lực  của cán bộ đảm nhiệm việc truyền thông, cơ sở trang thiết bị và kinh phí để thử  nghiệm và thực hiện những cách thức truyền thông hiệu quả. Những khó khăn này  đang cản trở việc truyền đạt thông tin đến với người dân một cách đúng và đủ.

3. Công tác hỗ trợ những nạn nhân  của bạo lực gia đình

Điều ghi nhận lớn nhất đó là  các cán bộ, nhất là các cán bộ của HPN cấp xã, thôn đã thông tin tới các nạn  nhân về Bộ luật quan trọng này để sự im lặng trong đau khổ được phá vỡ, và từ  đó nạn nhân được quan tâm hơn.

Công tác hòa giải, tư vấn tuy  quan trọng là vậy, nhưng vẫn bó buộc theo lối mòn khuyên giải người phụ nữ cần  cam chịu và trở về nhà, nơi bạo lực vẫn rình rập. Những địa chỉ tin cậy, nhà  tạm lánh cho nạn nhân của bạo lực vẫn còn   khá xa lạ tại các địa phương. Chính vì vậy, nhiều nạn nhân vẫn đang phải  chịu những hình thức bạo lực nghiêm trọng và dai dẳng cho dù Luật đã chính thức  có hiệu lực.  Biện pháp cấm tiếp xúc đối  với người gây bạo lực để bảo vệ nạn nhân còn rất mới và chưa có một trường hợp  nào trong nghiên cứu được áp dụng. Nếu không có sự truy cứu trách nhiệm với  những người không thực hiện biện pháp này để bảo vệ nạn nhân thì liệu quy định  này trong luật  có thực tế?

Việc phối hợp giữa  các cơ quan, đoàn thể  đã ghi rất rõ  trong Luật phòng chống bạo lực gia đình (xem chương IV, Luật Phòng chống bạo  lực gia đình). Tuy nhiên, công tác này được triển khai trên thực tế còn khá mờ  nhạt và hiệu quả thấp khi xử lý các trường hợp BLGĐ cũng như hỗ trợ nạn nhân.  Mọi công viêc từ truyền thông đến giải quyết các trường hợp cụ thể, hỗ trơ nạn
nhân vấn được giao phó cho ban hòa giải cấp cơ sở. Điều nghiêm trọng hơn là các  ban ngành có liên quan chưa thực sự coi BLGĐ là vấn đề xã hội và chưa ý thức  được tính nghiêm trọng của vấn đề trong mối quan  hệ với các quyền của phu nữ  nên việc xử lý và phòng ngừa bạo lực còn chưa quyết liệt và mang tính cá nhân.

Khó  khăn lớn nhất mà cán bộ địa phương nêu lên là  kinh phí và sự phối hợp về kinh phí, cả phía chính quyền và bên y tế đều không  có một khoản kinh phí nào dành riêng cho phòng chống bạo lực gia đình cũng như  hỗ trợ nạn nhân của bạo lực tại các cơ sở y tế.

4. Những khuyến nghị

Định hướng chung công tác tuyên truyền về Luật PCBLGĐ

- Việc nâng cao nhận thức và hiểu biết về  Luật PCBLGĐ cần phải làm liên tục và thường xuyên nhằm thay đổi những quan niệm mang  tính định kiến về giới và coi bạo lực gia đình chỉ là mâu thuẫn gia đình  của người dân là điều kiện rất quan trọng trong hoạt đồng phòng chống bạo  lực gia đình.

- Huy động sự tham gia tích cực của nam giới trong phòng chống bạo lực gia đình. Nam  giới không thể đứng ngoài cuộc vì đây chính là đối tượng có thể làm thay đổi  vấn đề bạo lực gia đình.

- Nâng cao tính hiệu quả của công tác hòa  giải bằng cách trang bị thêm những kỹ năng và kiến thức khi làm việc với nhóm người bị  bạo lực. Họ cần phải làm gì khi gặp những trường hợp bị bạo lực (quan  trọng là lên tiếng bảo vệ người phụ nữ chứ không phải là hoà giải để cho mọi  chuyện lắng dịu và người phụ nữ phải cam chịu sống trong bạo hành).

- Nâng cao nhận thức về tác động và hậu quả  của bạo lực gia đình lên cuộc sống và phát triển của trẻ em trong gia đình có bạo lực. Việc chứng kiến những cảnh bạo lực diễn ra trong gia đình sẽ  tác động lớn đến tâm sinh lý và phát triển của trẻ em. Cần có chương trình đặc  biệt về nâng cao nhận thức về vấn đề bạo hành trong gia đình  cho phụ nữ và trẻ  em gái để giúp cho phụ nữ và các em gái có kiến thức cần thiết khi đối mặt với  bạo hành gia đình (tìm đến ai và ở đâu để trình báo khi bị bạo hành). Những chương  trình nâng cao nhận thức này phải được thiết kế phù hợp với trình độ và ngôn  ngữ của nhóm dân cư này.

Đối với các cơ quan  VH-TT-DL:

- Hỗ trợ, thúc đẩy việc soạn thảo và công bố  các Thông  tư liên tịch về PCBLGĐ
 
- Xây dựng một Bản tin riêng về tình  hình BLGĐ và các vụ điển hình đã giải quyết hoặc cần theo dõi.

- Công bố về các nội dung về Kế  hoạch hành động quốc gia về PCBLGĐ.

- Nghiên cứu lại tính hiệu quả của phong  trào “Gia  đình văn hóa” có tính đến tiêu chí về vi phạm và xử lý BLGĐ.

- Tổ chức thêm các đợt tuyên truyền về Luật     PCBLGĐ và các văn bản hướng dẫn.

- Soạn thảo chế tài khiển trách và xử lý các trường hợp không làm đúng và làm tròn trách nhiệm của mình khi cứu chữa nạn
nhân cũng như can thiệp người gây bạo lực.

- Hướng dẫn cách báo cáo và thống kê về  các trường hợp BLGĐ tại địa phương.

Đối với các cơ quan đoàn thể:

- Cần sáng tạo và dũng cảm hơn trong việc  can thiệp và báo cáo về các vụ BLGĐ

- Có sự lồng ghép đều trong các hoạt động  của các Hội không những chỉ trong một vài dịp trong năm.

- Cập nhật thông tin với các phòng ban  khác, đặc biệt từ phía VH-TT và y tế.

- Thử nghiệm một mô hình địa chỉ tin cậy/nhà  tạm lánh để trình UB   xem xét.

- Có sổ tay ghi chép và  thống nhất cách ghi chép theo mẫu cho  các cán bộ. Định kỳ theo tháng hoặc theo quỹ, các ghi chép này được gửi về các  nơi liên quan.

 Đối với các Cơ quan y tế :

- Cập nhật Thông tư Số: 16/2009/TT-BYT- Bộ Y tế ban hành ngày 22/ 9/ 2009
Hướng dẫn việc tiếp nhận, chăm sóc y tế và thống kê, báo cáo đối với người bệnh  là nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để hiểu rõ về vai  trò của mình trong luật, ngoài điều trị và tư vấn cho nạn nhân, hỗ trợ cơ quan  công an về thông tin biểu hiện bạo lực gia đình.

- Có văn bản đề nghị về cách hỗ  trợ chi phí y tế cho nạn nhân đối với ngành dọc và UBND địa phương mình.

- Nâng cao nghiệp vụ tư vấn, họp về các trường hợp cần rút kinh  nghiệm, sưu tầm các địa chỉ tin cậy/ tạm lánh ở các nơi để dùng khi cần thiết

 Đối với các Cơ quan công an:

-  Chủ động liên hệ các tổ hòa giải, và  bên y tế để nắm bắt tình hình các ca bị bạo lực gia đình. Xem các văn bản hướng dẫn của các ngành y tế, VH-TT có liên quan  tới vai trò tham gia của công an để phối hợp được hiệu quả.

-  Phản ánh và tham mưu kịp thời các trường hợp thách thức pháp luật  của người gây bạo lực để ngăn chặn bạo lực sớm nhất có thể. Hỗ trợ Chủ tịch UBND xã/phường thực  hiện Biện pháp cấm tiếp xúc.

- Đề nghị được tập huấn nghiệm vụ riêng về loại tội phạm này.

 Đối với các các Chủ tịch UBND xã:


-  Cần có hội thảo chia sẻ của các vị lãnh đạo UBND cấp phường xã bởi vì  dù được giao nhiều trách nhiệm trong bảo vệ nạn nhân, song vai trò này còn rất  mờ nhạt, nếu không nói là phó thác cho cơ quan công an và hội phụ nữ. Trong khi  đó nhiều ý kiến cho biết còn phải “chờ” lãnh đạo ủy ban cho ý kiến mới dám thực  hiện cách ly hay bắt người gây bạo lực.

-  Với nhiều ý kiến phản ánh về tình trạng thiếu kinh phí như hiện nay  và các khó khăn về mặt trình độ, nên cán bộ, chủ tịch UBND xã phường cần phải  được tạo điều kiện tốt hơn để chỉ đạo và quyết định triển khai các hoạt động  truyền thông cũng như dịch vụ bảo vệ nạn nhân một cách hiệu quả

Theo minhladanong.com

TÂM ĐIỂM

CÁC ĐỀ ÁN

Video