Nhận diện kinh tế ban đêm và định hướng hoàn thiện khung chính sách, pháp luật cho phát triển kinh tế ban đêm ở Việt Nam
Hình minh họa. Nguồn: The Knowledge Exchange Blog 1. Đặt vấn đề
Kinh tế ban đêm (KTBĐ) là một bộ phận không thể tách rời trong cơ cấu kinh tế của mỗi địa phương, mỗi quốc gia hiện nay. Một xu hướng tất yếu, kinh tế của bất kỳ địa phương nào, quốc gia nào muốn phát triển một cách toàn diện thì chắc chắn phải có sự phát triển, đóng góp của KTBĐ. KTBĐ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra cơ hội việc làm và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tại Việt Nam, KTBĐ có sự phát triển nhất định và ngày càng gia tăng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu và đã đạt được một số kết quả tích cực, đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Huế. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế trong phát triển KTBĐ, như: thiếu quy hoạch tổng thể và khung chính sách pháp luật đồng bộ. Nguồn nhân lực cho các hoạt động ban đêm còn thiếu chuyên nghiệp, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng đủ các tiêu chí về an ninh, vệ sinh và môi trường, công tác quảng bá, xúc tiến cho KTBĐ vẫn còn rời rạc và thiếu điểm nhấn, để khắc phục, cần hoàn thiện cơ chế pháp luật, xây dựng chính sách hỗ trợ, quy hoạch rõ ràng và đẩy mạnh các hoạt động truyền thông nhằm tạo động lực phát triển bền vững cho KTBĐ. Quyết định 1129/QĐ-TTg ngày 27/7/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển kinh tế ban đêm ở Việt Nam đã bước đầu định hướng phát triển KTBĐ trên cả nước, tạo cơ sở pháp lý cho các địa phương triển khai các hoạt động. Một số địa phương đã ban hành các kế hoạch cụ thể, hỗ trợ phát triển KTBĐ gắn với du lịch và dịch vụ. Tuy nhiên, khung pháp luật hiện hành vẫn còn nhiều bất cập, thiếu sự đồng bộ và chi tiết trong các quy định. Trong bối cảnh các nước trên thế giới đã thành công trong việc phát triển KTBĐ, Việt Nam cần hội nhập để học hỏi kinh nghiệm, thu hút đầu tư, và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.
Bài viết này giới thiệu kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp Bộ nhằm giải quyết các vấn đề lý luận cơ bản về KTBĐ, phân tích khung chính sách, khung pháp luật phát triển KTBĐ; thực trạng pháp luật điều chỉnh KTBĐ; làm rõ thực trạng phát triển KTBĐ của Việt Nam và kinh nghiệm của các quốc gia, khu vực trong phát triển KTBĐ để rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện khung chính sách, pháp luật phát triển KTBĐ đảm bảo các yêu cầu trong khai thác, phát huy tối đa tiềm năng của Việt Nam và từng địa phương trong phát triển KTBĐ theo hướng bền vững thời gian tới.
2. Lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1. Địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Đề tài khảo sát thực địa tại 3 thành phố lớn tương ứng với 3 miền Bắc, Trung, Nam là Hà Nội, Huế và TP. Hồ Chí Minh; đồng thời sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính cụ thể sau:
Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện thông qua phỏng vấn bảng hỏi 800 người bao gồm: 500 người tiêu dùng/sử dụng dịch vụ KTBĐ; 150 người cung cấp dịch vụ và 150 người dân sinh sống trong khu vực KTBĐ.
Phỏng vấn sâu: Thực hiện 18 cuộc phỏng vấn sâu đối với đại diện các cơ quan nhà nước tham mưu, tham gia xây dựng chính sách và thực hiện quản lý về KTBĐ như: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tư pháp, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cấp trung ương và cấp tỉnh tại các địa phương tiến hành khảo sát.
Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong các khía cạnh như so sánh sự phát triển của KTBĐ trong các quá trình lịch sử; so sánh pháp luật đã và đang có hiệu lực điều chỉnh KTBĐ; so sánh thực trạng phát triển giữa các đô thị, thành phố, tỉnh thành khác nhau; so sánh giữa pháp luật các quốc gia, thành phố trên thế giới phát triển KTBĐ.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Phương pháp này được sử dụng để tổng quan tài liệu, gồm các bài viết khoa học, sách, bài báo cũng như nhiều đề tài nghiên cứu về KTBĐ, phục vụ xây dựng cơ sở lý luận và một số chuyên đề của đề tài.
Phương pháp chuyên gia: Đề tài cũng áp dụng phương pháp chuyên gia với việc trao đổi, lấy ý kiến từ các chuyên gia kinh tế, pháp lý nghiên cứu sâu về KTBĐ tại Việt Nam.
2.2. Lý thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu kế thừa,vận dụng một số lý thuyết sau:
Lý thuyết về Kinh tế học đô thị (Urban Economics) do Edgar M. Hoover và William Alonso là những người tiên phong trong nghiên cứu về kinh tế đô thị. Học thuyết này tập trung vào các yếu tố liên quan đến không gian và địa điểm trong hoạt động kinh tế; Phân tích tác động của mật độ dân cư, giao thông, và cơ sở hạ tầng đến hiệu quả kinh tế. Thế nên, khi áp dụng vào đề tài, cần xem xét cách quy hoạch đô thị và cơ sở hạ tầng ảnh hưởng đến việc hình thành các khu kinh tế ban đêm cũng như đánh giá vai trò của vị trí địa lý và sự kết nối giao thông trong phát triển KTBĐ.
Khung lý thuyết chính sách công (Public Policy Framework) của Harold Lasswell được xem là người khai sinh ra lĩnh vực phân tích chính sách công. Chính sách công là quá trình ra quyết định của chính phủ nhằm giải quyết các vấn đề xã hội. Các giai đoạn chính bao gồm: xác định vấn đề, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá. Khi áp dụng vào đề tài thì phải phân tích hiệu quả của các chính sách hiện tại đối với KTBĐ và đề xuất cải cách hoặc điều chỉnh chính sách, như các ưu đãi tài chính, quản lý an ninh và khung pháp luật phù hợp.
Lý thuyết về quản lý nhà nước (Governance Theory): Mark Bevir đã phát triển lý thuyết về quản trị hiện đại dựa trên sự phối hợp giữa nhà nước, thị trường và xã hội. Lý thuyết tập trung vào cách thức quản lý thông qua các cơ chế hợp tác giữa các bên liên quan và chú trọng đến việc quản trị theo hướng minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm giải trình. Khi áp dụng vào đề tài, chúng tôi sẽ chú trọng đến xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cấp chính quyền và doanh nghiệp trong quản lý hoạt động KTBĐ cũng như đề xuất các tiêu chuẩn quản lý, như quy định giờ hoạt động và an toàn xã hội.
Lý thuyết phát triển bền vững (Sustainable Development): Báo cáo Brundtland (1987) đã đưa ra định nghĩa kinh điển về phát triển bền vững. Nội dung cơ bản của khung lý thuyết là phát triển bền vững phải đảm bảo cân bằng giữa ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường cũng như đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai. Khi áp dụng vào đề tài, đề tài cần đánh giá các tác động môi trường của KTBĐ, như tiếng ồn, ánh sáng và rác thải cũng như đề xuất mô hình KTBĐ vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vừa bảo vệ môi trường và văn hóa địa phương.
Lý thuyết hành vi tiêu dùng (Consumer Behavior): Ohn C. Mowen và Michael Minor có nhiều đóng góp trong lĩnh vực này. Khung lý thuyết phân tích động lực, thói quen, và hành vi của người tiêu dùng trong việc lựa chọn sản phẩm/dịch vụ cũng như tập trung vào yếu tố tâm lý, xã hội và kinh tế ảnh hưởng đến hành vi. Khi áp dụng vào đề tài, đặc biệt đề xuất khung chính sách, pháp luật, cần trọng tâm vào nhu cầu và xu hướng tiêu dùng của khách hàng trong các dịch vụ ban đêm, như giải trí, ăn uống, và mua sắm; Thiết kế sản phẩm/dịch vụ phù hợp với các nhóm khách hàng mục tiêu (giới trẻ, khách du lịch, gia đình).
Khung lý thuyết kinh tế sáng tạo (Creative Economy Framework): Ohn Howkins giới thiệu khái niệm kinh tế sáng tạo trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nhấn mạnh vai trò của ý tưởng, văn hóa và công nghệ trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các ngành sáng tạo như nghệ thuật, giải trí, truyền thông đóng vai trò trọng tâm. Khi áp dụng vào đề tài, nhóm tác giả trọng tâm vào đề xuất xây dựng các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật phục vụ KTBĐ như phố đi bộ, biểu diễn nhạc sống. Tăng cường ứng dụng công nghệ trong truyền thông và quảng bá.
Lý thuyết về toàn cầu hoá (Globalization Theory): Anthony Giddens đã có nhiều nghiên cứu quan trọng về tác động của toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa là quá trình tăng cường kết nối và hội nhập giữa các quốc gia trên thế giới. Nhấn mạnh sự giao thoa văn hóa và lan tỏa các xu hướng kinh tế. Khi áp dụng vào đề tài, nhóm tác giả đã học hỏi kinh nghiệm phát triển KTBĐ từ các quốc gia tiên tiến và tích hợp các xu hướng quốc tế vào quy hoạch KTBĐ tại Việt Nam.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Lý luận về kinh tế ban đêm và khung chính sách, pháp luật phát triển kinh tế ban đêm
* Kinh tế ban đêm
Khái niệm: Từ bản chất của KTBĐ là ra đời tại các đô thị và nhằm mục tiêu thoả mãn nhu cầu được sống, hưởng thụ không giới hạn thời gian của con người, đóng vai trò tái cấu trúc lại đô thị, là một phần cấu thành nền kinh tế của mỗi đô thị, và gắn với nhu cầu thiên về giải trí, mua sắm, giảm các căng thẳng của cuộc sống của con người, nên có thể hiểu KTBĐ là một phần của nền kinh tế đô thị, bao gồm các hoạt động mua sắm, ẩm thực, giải trí, văn hoá, dịch vụ diễn ra trong khung giờ từ 18 giờ tối ngày hôm trước đến 6 giờ sáng ngày hôm sau, thường gắn với du lịch và truyền thống văn hóa nhằm hướng đến nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống người dân, góp phần phát triển đô thị.
Đặc điểm của KTBĐ: Về thời gian hoạt động của KTBĐ được tính từ 18 giờ hôm trước đến 6 giờ sáng ngày hôm sau. Về cơ cấu của KTBĐ chủ yếu thuộc lĩnh vực dịch vụ, như: văn hoá, giải trí, du lịch, ẩm thực. Khách hàng của KTBĐ thường là những người có nhu cầu giải trí, hưởng thụ văn hóa, trải nghiệm du lịch hoặc dịch vụ thư giãn. KTBĐ có yêu cầu về an ninh trật tự, an toàn xã hội cao, và đòi hỏi có cơ sở hạ tầng đặc thù, mang tính hiện đại. Với những đặc điểm riêng biệt này, KTBĐ có tác động nhất định đến cộng đồng bản địa, nên nhiều thành phố, đô thị lớn trên thế giới đã xây dựng khu vực KTBĐ tách biệt khỏi khu sinh sống của dân cư.
* Khung chính sách, pháp luật phát triển kinh tế ban đêm
Khung chính sách phát triển KTBĐ được hiểu là hệ thống các nguyên tắc, khái niệm, công cụ được cơ quan quyền lực công có thẩm quyền ban hành nhằm định hướng thực hiện các chương trình, nhiệm vụ cụ thể để đạt mục tiêu nhất định trong thời hạn cụ thể trong phát triển KTBĐ với tư cách là một phần của nền kinh tế đô thị, bao gồm các hoạt động mua sắm, ẩm thực, giải trí, văn hoá, dịch vụ diễn ra từ 18 giờ tối ngày hôm trước đến 6 giờ sáng ngày hôm sau, thường gắn với du lịch, truyền thống văn hóa nhằm hướng đến nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống của người dân, góp phần phát triển đô thị.
Khung pháp luật phát triển KTBĐ được hiểu là một công cụ do Nhà nước ban hành hướng đến điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một trật tự nhất định nhằm đảo sự hài hoà lợi ích, tôn trọng lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các chủ thể trong xã hội cho phát triển KTBĐ với tư cách là một phần của nền kinh tế đô thị, bao gồm các hoạt động mua sắm, ẩm thực, giải trí, văn hoá, dịch vụ diễn ra từ 18 giờ tối ngày hôm trước đến 6 giờ sáng ngày hôm sau, thường gắn với du lịch, truyền thống văn hóa nhằm hướng đến nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống của người dân, góp phần phát triển đô thị.
Đặc điểm của khung chính sách, pháp luật phát triển KTBĐ là: mang tính toàn diện và đồng bộ; mang tính linh hoạt và thích ứng; mang tính minh bạch và rõ ràng; mang tính khả thi và hiệu quả; và mang tính bền vững.
Cấu trúc của khung chính sách, pháp luật phát triển KTBĐ bao gồm các quy định về 10 vấn đề lớn sau: các vấn đề chung nhất dành cho KTBĐ; quy hoạch phát triển KTBĐ; những ngành nghề kinh doanh, thủ tục đăng ký, ưu đãi đối với từng ngành nghề cụ thể; thuế, phí, các nghĩa vụ tài chính khác; quy định về lao động, việc làm; đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng; quản lý nhà nước đối với KTBĐ; an ninh, trật tự, an toàn xã hội với KTBĐ; bảo vệ môi trường trong KTBĐ; và hợp tác quốc tế trong phát triển KTBĐ.
Các yếu tố chi phối sự phát triển của KTBĐ bao gồm: quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển KTBĐ; môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch, cạnh tranh; thói quen tiêu dùng, phong cách sống và nhu cầu giải trí; thay đổi hành vi tiêu dùng tác động đến sự phát triển của KTBĐ; cơ sở hạ tầng tác động đến sự phát triển KTBĐ; và lực lượng lao động tác động đến sự phát triển của KTBĐ.
3.2. Thực trạng hoạt động kinh tế ban đêm tại Việt Nam
Kết quả khảo sát thực địa tại Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh cho thấy, KTBĐ tại các thành phố lớn phát triển tương đối nhanh và đã khẳng định được vai trò của mình trong kinh tế - văn hoá – xã hội của địa phương. KTBĐ đóng góp đáng kể vào thu ngân sách cho địa phương, cải thiện thu nhập cho người dân; tác động tích cực tới du lịch, dịch vụ; tăng nhu cầu và tiềm năng phát triển KTBĐ; tích cực bảo tồn và phát triển văn hoá, xã hội của địa phương; thúc đẩy tiêu dùng, phát triển dịch vụ. Tuy nhiên, hiện còn nhiều điểm vướng mắc trong phát triển KTBĐ như: thiếu vắng quy hoạch tổng thể, riêng biệt dành cho phát triển KTBĐ; chưa có hệ thống các chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư vào KTBĐ; thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao cho KTBĐ; chưa xây dựng được cơ chế quản lý nhà nước đặc thù cho KTBĐ; chưa có cơ chế bảo đảm về an toàn thực phẩm; thiếu vắng hoạt động quảng bá quy mô, hệ thống về KTBĐ; chưa xác định mô hình áp dụng cho KTBĐ. Nhiều tác động khác chưa được quản lý tốt, như: ảnh hưởng sự đi lại của người dân, tiếng ồn, vệ sinh môi trường…
Từ thực trạng này có thể thấy, để thúc đẩy phát triển KTBĐ, cần quan tâm giải quyết một vấn đề đặt ra sau đây: 1) Ban hành một văn bản ít nhất ở tầm nghị định để đưa ra các nguyên tắc chung nhất điều chỉnh KTBĐ trên phạm vi cả nước, đảm bảo bám sát bản chất của KTBĐ, các mục tiêu đặt ra khi phát triển KTBĐ và điều chỉnh một số lĩnh vực đặc thù. Đồng thời, phải thể hiện rõ cơ chế cho phép các địa phương được áp dụng linh hoạt, phù hợp với điều kiện đặc thù địa phương mình. 2) Giải quyết tốt khâu quy hoạch, đảm bảo những hạng mục cụ thể được quy hoạch rõ ràng, đồng bộ, như: phố đi bộ, chợ đêm, phố ẩm thực; các phương tiện giao thông công cộng, hệ thống ánh sáng, camera an ninh… 3) Đa dạng hóa các dịch vụ trong KTBĐ: Hiện các hoạt động KTBĐ đang tập trung vào ẩm thực và giải trí cơ bản, chưa phát triển đa dạng các dịch vụ như văn hóa nghệ thuật, thể thao đêm, hay mua sắm. 4) Quản lý tốt an ninh, trật tự, an toàn và vệ sinh công cộng, tránh gây ảnh hưởng tiêu cực đến trải nghiệm của người dân và du khách. 5) Có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phù hợp với phát triển KTBĐ, nhất là về thuế, phí, lệ phí, thủ tục hành chính… 6) Đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng cho KTBĐ. 7) Mô hình phát triển KTBĐ còn chưa được định hình và chưa xác định được các điều kiện áp dụng cho từng mô hình, chủ yếu đang phát triển theo hướng tự phát, dựa vào các khu vực có truyền thống trong cung cấp ẩm thực, giải trí, mua sắm… 8) Cần có chính sách hỗ trợ người dân khu vực KTBĐ, để họ được bảo vệ trước các tác động tiêu cực của KTBĐ.
3.3. Thực trạng khung chính sách, pháp luật phát triển kinh tế ban đêm ở Việt Nam
Khung chính sách, pháp luật phát triển KTBĐ thể hiện chủ yếu qua một số văn bản như: Quyết định 1129/QĐ-TTg, Luật Quy hoạch năm 2017, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Giao thông đường bộ năm 2008, Luật Đầu tư năm 2020, Luật Du lịch năm 2017, Bộ luật Lao động năm 2019, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật An ninh Quốc gia năm 2004, Luật Phòng cháy và chữa cháy năm 2001, sửa đổi năm 2013, Luật An ninh Quốc gia năm 2004, Luật Thương mại năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019)…
Rà soát chính sách, pháp luật có liên quan, cho thấy một số vấn đề cần quan tâm sau: hính sách, pháp luật về quy hoạch phát triển KTBĐ còn chung chung chưa thể hiện rõ những yếu tố đặc thù phù hợp với đặc điểm của KTBĐ nên chưa giải quyết hiệu quả những vấn đề riêng của KTBĐ. Chính sách, pháp luật còn thiếu những quy định về loại hình, ngành nghề kinh doanh, dịch vụ cũng như ưu đãi đầu tư cho KTBĐ; Chính sách, pháp luật về đầu tư, phát triển hạ tầng cho KTBĐ chưa cụ thể, mới tạo dựng được những nguyên tắc pháp lý ban đầu giúp thu hút đầu tư vào phát triển hạ tầng, dịch vụ cho KTBĐ. Chính sách, pháp luật về du lịch gắn với phát triển KTBĐ chưa có các quy định cụ thể và mang tính đặc thù cho du lịch đêm, như quản lý tiếng ồn, chiếu sáng, vệ sinh, và bảo đảm an ninh, trật tự. Chính sách, pháp luật về lao động, việc làm cho KTBĐ chưa cụ thể, mới cung cấp một số quy định cơ bản nhằm bảo vệ quyền lợi người lao động.Chưa có quy định đặc thù về thuế, phí, các nghĩa vụ tài chính đối với KTBĐ, mà đang tuân theo các nguyên tắc chung. Thiếu các quy định mang tính nguyên tắc hoặc những hướng dẫn trực tiếp liên quan đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ môi trường trong KTBĐ. Thiếu chính sách, pháp luật về quảng bá, phát triển thương hiệu cho các dịch vụ và hoạt động đặc thù của KTBĐ. Thiếu chính sách, pháp luật về quản lý nhà nước cho KTBĐ, chưa có quy định đặc thù cho các dịch vụ và hoạt động diễn ra vào ban đêm. Thiếu cơ chế, quy định cụ thể về thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế trong phát triển KTBĐ.
3.4. Kinh nghiệm phát triển kinh tế ban đêm ở một số quốc gia trên thế giới và đề xuất giải pháp
Phân tích tình hình phát triển KTBĐ của một số nước phát triển, như: Vương Quốc Anh, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore và Thái Lan cho thấy, các quốc gia này đều có sự phát triển điển hình của KTBĐ và được coi là những mô hình phát triển KTBĐ thành công hàng đầu trên thế giới. Trong đó, có chính sách phát triển KTBĐ rõ ràng, có quy hoạch cụ thể, mô hình vận hành KTBĐ đa dạng và hiệu quả. KTBĐ của các quốc gia này đều đóng góp đáng kể vào GDP, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy du lịch phát triển… Tuy nhiên, tồn tại mặt trái của KTBĐ mà họ phải tìm cách giải quyết, như: vấn đề an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường…
Từ kết quả nghiên cứu nói trên, có thể đề xuất một số giải pháp cho phát triển KTBĐ ở Việt Nam như sau:
- Hoàn thiện khung pháp lý là yêu cầu tiên quyết nếu muốn đạt được mục tiêu phát triển KTBĐ bền vững. Cần xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý rõ ràng, chi tiết cho KTBĐ, trong đó có các quy định về giấy phép hoạt động, giờ mở cửa, tiêu chuẩn an ninh và vệ sinh… Đồng thời, quan tâm tháo gỡ các rào cản phát triển KTBĐ, giúp loại hình kinh tế này khai thác tối đa các lợi thế của mỗi địa phương.
- Tăng cường quản lý và giám sát thông qua thiết lập hệ thống giám sát và đánh giá hiệu quả của các chính sách phát triển KTBĐ để cải thiện và điều chỉnh phù hợp với nhu cầu thực tế.
- Xây dựng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh ban đêm, chú trọng ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính và đào tạo nhân lực, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực này.
- Tăng cường phân cấp quản lý, cho phép các địa phương tự chủ trong việc quy định và quản lý KTBĐ, phù hợp với đặc thù văn hóa và nhu cầu của từng khu vực.
- Quy định rõ ràng về giấy phép kinh doanh, thời gian hoạt động và các tiêu chuẩn an ninh, an toàn cho các cơ sở kinh doanh ban đêm.
- Quản lý hiệu quả tiếng ồn và an ninh thông qua thiết lập các tiêu chuẩn về mức độ tiếng ồn và hướng dẫn các cơ sở kinh doanh ban đêm thực hiện; tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh cho khách hàng và cộng đồng xung quanh.
- Cần phát triển song song hai mô hình KTBĐ, đó là mô hình KTBĐ tại các khu vực có “truyền thống” cung cấp dịch vụ đêm như ẩm thực, mua sắm, giải trí và mô hình xây dựng các khu KTBĐ riêng biệt được quy hoạch tách biệt khỏi khu vực cư dân; đảm bảo các khu vực riêng được xây dựng với quy mô lớn, kết hợp tất cả các dịch vụ thường thấy trong nền KTBĐ, giúp thỏa mãn tối đa các nhu cầu của người dân và khách du lịch.
- Thúc đẩy hợp tác công – tư trong phát triển KTBĐ, trong đó khuyến khích hợp tác giữa các doanh nghiệp và chính quyền trong việc xây dựng chính sách, quảng bá hoạt động KTBĐ và giải quyết các thách thức chung.
- Đa dạng hoá các hoạt động văn hoá, giải trí, thương mại ban đêm, khuyến khích các dịch vụ ăn uống, mua sắm đêm; tăng cường tổ chức các sự kiện văn hóa và nghệ thuật, các chợ đêm, hoặc các tuyến phố đi bộ để tạo điểm nhấn, thu hút du khách và thúc đẩy chi tiêu. Điều này không chỉ mang lại doanh thu cho địa phương mà còn nâng cao giá trị văn hóa và thu hút khách quốc tế. Khuyến khích các nhà hàng, quán bar, và cửa hàng bán lẻ hoạt động muộn hơn để đáp ứng tối đa nhu cầu của người dân và du khách.
4. Kết luận và khuyến nghị chính sách
Trên cơ sở phân tích chính sách của Đảng, nhà nước; thực tiễn phát triển KTBĐ tại Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu tập trung kiến nghị hoàn thiện khung chính sách, pháp luật cho phát triển KTBĐ tại Việt Nam. Trong đó, cần quan tâm đến những vấn đề cốt lõi ở góc độ kỹ thuật trong xây dựng, hoàn thiện khung pháp luật cho phát triển KTBĐ, cụ thể:
- Về hình thức, thẩm quyền ban hành và cấp độ văn bản pháp luật: Thời điểm hiện tại, nên xây dựng và ban hành một văn bản ở tầm Nghị định của Chính phủ nhằm đưa ra các chính sách khung về phát triển KTBĐ, đảm bảo cụ thể hóa các chính sách phát triển KTBĐ như khuyến nghị nêu trên.
- Phạm vi, nội dung điều chỉnh của Nghị định Chính phủ về phát triển KTBĐ: Cần cụ thể hóa khung chính sách phát triển KTBĐ và nên dừng lại ở các quy định có tính chất khung về các chính sách cốt lõi cho phát triển KTBĐ, trong đó cần có quy định về: 1) nhận diện, quy định đầy đủ về các loại hình hoạt động, ngành nghề của KTBĐ; 2) quy hoạch không gian, nguồn lực cho phát triển KTBĐ; 3) các quy định về loại hình, ngành nghề kinh doanh, dịch vụ và các chính sách ưu đãi đầu tư dành cho KTBĐ; 4) các quy định về đầu tư, phát triển hạ tầng cho KTBĐ; 5) các quy định về du lịch gắn với phát triển KTBĐ; 6) các quy định về lao động, việc làm dành cho KTBĐ; 7) các quy định về an ninh, trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ môi trường trong KTBĐ; 8) các quy định về quản lý nhà nước, hợp tác quốc tế cho phát triển KTBĐ.
- Đối với phạm vi, nội dung điều chỉnh văn bản của chính quyền cấp tỉnh: Văn bản của chính quyền cấp tỉnh về phát triển KTBĐ của địa phương cần thỏa mãn hai yếu tố cơ bản: (1) Phù hợp với chính sách phát triển KTBĐ của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị định của Chính phủ và các văn bản chuyên ngành của các bộ, cơ quan quản lý nhà nước về phát triển KTBĐ; (2) Có chính sách đặc thù, phù hợp với thẩm quyền của chính quyền cấp tỉnh nhằm khai thác, phát huy được thế mạnh phát triển KTBĐ của địa phương, đặc biệt là các hoạt động văn hóa, các khu vực KTBĐ truyền thống là thế mạnh của địa phương; góp phần nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương qua KTBĐ.
Như vậy, KTBĐ tại Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển, nhưng hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế cần được khắc phục. Việc hoàn thiện khung chính sách, pháp luật sẽ tạo ra những đột phá, giúp Việt Nam khai thác tối đa tiềm năng KTBĐ, góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững và nâng cao vị thế quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Nguyễn Thị Thu Trang (2020), Phát triển kinh tế ban đêm: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất đối với Việt Nam, Tạp chí Kinh tế Tài chính Việt Nam, số 2, tháng 4/2020.
- Nguyễn Anh Dương (2021), Phát triển kinh tế ban đêm ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức đặt ra, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, ngày 11/08/2021.
- Phạm Thị Phương Thảo (2023), Định hướng thúc đẩy phát triển kinh tế ban đêm tại Việt Nam, Tạp chí Tài chính, kỳ 1 tháng 7/2023.
- Trần Thị Hồng Minh và cộng sự (2023), Đề án Phát triển kinh tế ban đêm: Nhìn lại 3 năm thực hiện, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, tháng 3/2023.
- Nguyễn Sơn Hải và Trần Vũ Hải (2023), Chính sách phát triển kinh tế ban đêm tại một số địa phương hiện nay và bình luận, kiến nghị, Tạp chí Tài chính, kỳ 1 tháng 7/2023.
- TS. Phạm Văn Hiếu (2023), Kinh tế đêm: Lý luận và kinh nghiệm quốc tế đối với Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/06/15/kinh-te-dem-ly-luan-va-kinh-nghiem-quoc-te-doi-voi-viet-nam/, ngày truy cập 1/8/2024.
- Tạp chí Tài chính (2021), Kinh nghiệm phát triển kinh tế ban đêm tại một số quốc gia. https://tapchitaichinh.vn/kinh-nghiem-phat-trien-kinh-te-ban-dem-tai-mot-so-quoc-gia.html, ngày truy cập 1/8/2024.
- Nguyễn Danh Nam, Uông Thị Ngọc Lan (2022), Phát triển kinh tế ban đêm – Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý chính sách cho vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung, Tạp chí Kinh doanh và Công nghệ số 19/2022, trang 38 – 43.
- Linh Anh (2024), Bản sắc văn hoá Hà Nội tạo sức bật cho kinh tế ban đêm. https://kinhtedothi.vn/ban-sac-van-hoa-ha-noi-tao-suc-bat-cho-kinh-te-dem.html, ngày truy cập 20/10/2024.
- Nguyễn Đoàn Quốc (2024), Phát triển kinh tế ban đêm giàu bản sắc văn hoá Huế https://baothuathienhue.vn/kinh-te/phat-trien-kinh-te-dem-giau-ban-sac-van-hoa-hue-146564.html, ngày truy cập 20/10/2024.
