Các biện pháp cần thiết để bảo vệ người bị hại, người làm chứng trong các vụ án mua bán người và những người thân của họ

15/09/2010
(GS.TS. Nguyễn Ngọc Anh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế - Bộ Công an)

Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, cần thiết phải có các quy định cụ thể hơn về bảo vệ người làm chứng, người bị hại trong các vụ án hình sự nói chung và trong các vụ án mua bán người nói riêng. Hiện nay, các cơ quan chức năng đang tiến hành nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền xây dựng, ban hành một đạo luật riêng về bảo vệ người làm chứng, người bị hại trong các vụ án hình sự (trong đó có người làm chứng, người bị hại trong các vụ án mua bán người); đồng thời, các cơ quan hữu quan đang tiến hành xây dựng dự án Luật phòng, chống mua bán người cũng đã soạn thảo các quy định cụ thể về việc bảo vệ người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ trong các vụ án mua bán người. Cùng với đó, hiện nay, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao và Bộ Quốc phòng cũng đang phối hợp tiến hành xây dựng một văn bản liên tịch để hướng dẫn cụ thể về bảo vệ người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ trong các vụ án hình sự.

Trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành và xuất phát từ tính chất, đặc điểm của loại tội phạm mua bán người cùng những đặc thù của người làm chứng, người bị hại trong các vụ án mua bán người, có thể đề cập đến một số biện pháp cần thiết để bảo vệ người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ trong các vụ án mua bán người cụ thể như sau:

1. Bố trí lực l­ượng, ph­ương tiện nghiệp vụ để canh gác bảo vệ đối với người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ tại phiên toà, nhà ở, nơi làm việc, nơi học tập, trên phương tiện giao thông và các nơi cần thiết khác.

Có thể sử dụng lực l­ượng vũ trang hoặc không vũ trang, công khai hoặc bí mật để bảo vệ; trong trường hợp cần thiết thì sử dụng các ph­ương tiện, biện pháp nghiệp vụ hoặc trang bị phương tiện liên lạc, cung cấp số điện thoại đường dây nóng hoặc thống nhất ám, tín hiệu và cách thức liên lạc để người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ thông báo kịp thời cho cơ quan có trách nhiệm bảo vệ khi có tình huống khẩn cấp. Trong trường hợp cần thiết, để đảm bảo hiệu quả của công tác bảo vệ, có thể yêu cầu người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ hạn chế phạm vi đi lại, quan hệ, giao dịch của họ trong một thời gian nhất định, nhất là tại những nơi xét thấy có mức độ nguy hiểm cao.

2. Giữ bí mật nhận dạng và việc cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến tội phạm của người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ nếu họ yêu cầu hoặc xét thấy họ có thể nguy hiểm do cung cấp nhận dạng hoặc thông tin, tài liệu đó.

Điều kiện áp dụng biện pháp này là những thông tin, tài liệu của người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn giữ được bí mật đối với bọn tội phạm, chúng không biết được ai là người đã tố giác, khai báo hành vi phạm tội của chúng. Việc giữ bí mật không chỉ với tội phạm mà còn đối với bất kỳ ai không cần thiết biết những thông tin này nhằm phòng ngừa việc lộ, lọt thông tin đến tội phạm. Cơ quan bảo vệ có thể áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để đánh lạc hướng sự chú ý của tội phạm hoặc đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng chuyển hoá nguồn thông tin, tài liệu về tội phạm do người được bảo vệ cung cấp; trường hợp vụ án được đưa ra xét xử, theo đề nghị của cơ quan có trách nhiệm bảo vệ, Thẩm phán chủ toạ phiên toà phải ra quyết định xét xử kín, trường hợp xét xử công khai thì quyết định cấm ghi hình, ghi âm, chụp ảnh tại phiên toà. Đối với người bào chữa phải có cam kết giữ bí mật khi được nghiên cứu, tiếp xúc với đơn th­ư tố giác, lời khai của người đang đ­ược áp dụng các biện pháp bảo vệ.

3. Di chuyển và giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, nơi học tập người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ.

Biện pháp này nhằm loại trừ khả năng tội phạm hoặc đồng bọn có thể tiếp cận với người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ tại chỗ ở, nơi làm việc, học tập của họ. Có thể di chuyển người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ khỏi chỗ ở, nơi làm việc, nơi học tập mà tội phạm đã biết hoặc có thể biết và tuyệt đối giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, nơi học tập mới của họ. Thời hạn di chuyển tuỳ từng trường hợp cụ thể và tuỳ điều kiện, có thể là tạm thời hoặc di chuyển vĩnh viễn. Phạm vi di chuyển có thể là cùng trong một địa phương hoặc đến địa phương khác; trong trường hợp cấp bách phải tạm thời di chuyển ngư­ời đ­ược bảo vệ đến trụ sở cơ quan Công an, Quân đội hoặc địa điểm khác thuộc phạm vi quản lý, bảo vệ của cơ quan Công an, Quân đội.

Nghiêm cấm việc tiết lộ thông tin liên quan đến nhận dạng và chỗ ở của người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ.

4. Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hoá hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với những đối tư­ợng có hành vi gây nguy hiểm cho người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ.

Khi cần thiết và có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật, cơ quan có trách nhiệm bảo vệ có thể trực tiếp hoặc đề nghị cơ quan Công an, Quân đội có thẩm quyền áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, hành chính hoặc bắt giữ, xử lý người có hành vi đe doạ, khống chế hoặc xâm phạm đến người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ, hoặc gọi hỏi, triệu tập đối tượng lên để răn đe, cảnh cáo chúng về hành vi gây nguy hiểm cho người khác.

5. Các biện pháp bảo vệ khác

Cơ quan có trách nhiệm bảo vệ có thể áp dụng các biện pháp khác trong khuôn khổ của pháp luật để đảm bảo an toàn tính mạng, sức khoẻ và tài sản của người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ trong các vụ án mua bán người.

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước trong từng lĩnh vực quản lý và trong tố tụng hình sự, có thể giao thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ cho các cơ quan điều tra trong Công an nhân dân; các cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân; Cơ quan điều tra trong Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự trung ­ương; Viện kiểm sát nhân dân các cấp; Viện kiểm sát quân sự các cấp; Toà án nhân dân các cấp; Toà án quân sự các cấp. Đồng thời, giao trách nhiệm tiến hành việc bảo vệ cho các đơn vị trong Công an nhân dân (lực l­ượng Cảnh sát bảo vệ các cấp; Công an cấp huyện nơi c­ư trú, làm việc và học tập của người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ; các đơn vị trinh sát, kỹ thuật, quản lý trật tự xã hội, xuất nhập cảnh v.v…) và các đơn vị trong Quân đội nhân dân.

Để việc bảo vệ đạt được hiệu quả, cũng cần xác định quyền và nghĩa vụ của người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ khi tham gia vào quá trình bảo vệ, theo đó, người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ có quyền:

- Yêu cầu các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử áp dụng các biện pháp bảo vệ khi có nguy cơ tấn công hoặc xâm hại do việc họ cung cấp chứng cứ liên quan đến vụ án mua bán người;

- Đ­ược biết trư­ớc về các biện pháp bảo vệ và có quyền đề nghị thay đổi biện pháp bảo vệ nếu có căn cứ thực tế cho thấy biện pháp bảo vệ trước đó không bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ và tài sản của họ;

- Được trả chi phí khám, chữa bệnh do bị trả thù; trường hợp bị thương hoặc bị chết thì được hưởng chế độ theo quy định.

Người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ có nghĩa vụ:

- Chấp hành nghiêm chỉnh những yêu cầu về đi lại, ăn ở, sinh hoạt, giao tiếp, thăm gặp, làm việc, học tập v.v… của cơ quan có trách nhiệm bảo vệ;

- Không được tiết lộ thông tin về nơi ở, sự thay đổi nhận dạng hoặc các biện pháp bảo vệ khác cho người khác biết, kể cả thân nhân khi chưa được sự đồng ý của cơ quan có trách nhiệm bảo vệ;

- Thông tin kịp thời những vụ việc, tình huống bất th­ường xảy ra mà thấy nghi vấn hoặc có liên quan đến hoạt động bảo vệ của cơ quan có trách nhiệm bảo vệ.

Trường hợp người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ không tuân thủ các nghĩa vụ mà bị tấn công hoặc xâm hại thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Vấn đề bảo vệ người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ trong các vụ án hình sự nói chung và trong các vụ án mua bán người nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng, phải huy động nhiều lực lượng, phương tiện, cùng một lượng kinh phí lớn và các điều kiện bảo đảm cần thiết khác. Đây là một yêu cầu thực tiễn đặt ra cho các cơ quan chức năng phải tìm biện pháp thích hợp để giải quyết. Vấn đề ở chỗ là không chỉ xây dựng các văn bản pháp luật để quy định về vấn đề này, mà đòi hỏi phải có sự quyết tâm cao của các cấp, các ngành trong việc triển khai thực hiện các quy định đó trong thực tế, từ đó, mới có thể bảo vệ có hiệu quả người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ trong các vụ án mua bán người.

Tài liệu Hội thảo “Trao đổi thông tin, kinh nghiệm về tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý cho PN”

TÂM ĐIỂM

CÁC ĐỀ ÁN

Video