Giải pháp cho vấn đề chung sống không đăng ký kết hôn của cư dân biên giới hai nước Việt- Lào tại tỉnh Quảng Trị

12/09/2013
Hai huyện Hướng Hóa và Đakrông, tỉnh Quảng Trị có 17 xã và 1 thị trấn chung đường biên giới 2 tỉnh Savannakhet, Salavan nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Người dân sống ở khu vực biên giới chiếm trên 95 % là người dân tộc Vân Kiều, Pa Kô. Do đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, trình độ nhận thức còn hạn chế, phong tục tập quán lạc hậu, việc di cư tự do, vượt biên trái phép diễn ra thường xuyên.

Mặt khác, do chung sống cùng đường biên giới nên quan hệ giao lưu giữa công dân của hai bên biên giới, trong đó tình trạng công dân 2 nước tiến tới quan hệ hôn nhân ngày càng nhiều và có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, nhiều trường hợp người dân hai nước có quan hệ hôn nhân ở khu vực biên giới chưa tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn. Theo con số thống kê chưa đầy đủ, tính đến năm 2011 ở 18 xã, thị trấn khu vực biên giới có 205 hộ/1.052 khẩu người Lào nhập cư, 149 trường hợp người Lào kết hôn với người Việt Nam nhưng chưa đăng ký kết hôn. Cụ thể ở xã Ba Tầng (huyện Hướng Hóa) có 35 cặp, xã Ba Nang (huyện Đakrông) có 10 cặp; các trường hợp có quan hệ hôn nhân này đều đã có con chung, tài sản chung, có nhiều trường hợp công dân Lào đã sinh sống ổn định lâu dài tại Việt Nam.

Việc công dân Việt Nam - Lào ở khu vực biên giới chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn là do sự hạn chế về trình độ văn hóa, sự hiểu biết của người dân, do phong tục tập quán đa số người dân tộc Pa Kô, Vân Kiều trước đây sống chung không tiến hành đăng ký kết hôn. Bên canh đó, việc xuất trình giấy tờ, thủ tục theo quy định công dân nước láng giềng phải nộp tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định có xác nhận chưa quá 6 tháng của cơ quan có thẩm quyền của nước láng giềng về việc hiện tại đương sự là người không có vợ hoặc không có chồng trong khi đa số các trường hợp nam hoặc nữ là người Lào di cư qua Việt Nam sinh sống đã lâu, nay không thể trở về Lào để làm các thủ tục giấy tờ xác nhận tình trạng hôn nhân được. Sự khác biệt về thủ tục, theo quy định của Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình có yếu tố nước ngoài đối với công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới kết hôn với công dân nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam thì thủ tục và hồ sơ đăng ký kết hôn quy định đơn giản hơn và thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn thuộc UBND xã. Với đặc thù điều kiện kinh tế, xã hội ở khu vực sát biên giới hai nước đại đa số là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa còn thấp nên khi có nguyện vọng kết hôn với công dân Việt Nam ở khu vực biên giới thì hai bên nam nữ chỉ cần nộp hồ sơ theo quy định, UBND xã chuyển về Sở Tư pháp để thẩm định cho ý kiến và sau đó UBND xã cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Đây là nguyên nhân làm cho thủ tục đăng ký kết hôn trở nên rườm rà, gây phức tạp cho cán bộ tư pháp hộ tịch khi thực hiện. Cụ thể để giải quyết việc đăng ký kết hôn, cán bộ tư pháp hộ tịch tại một xã miền núi, biên giới phải nắm được 3 loại thủ tục đăng ký kết hôn áp dụng với 3 nhóm đối tượng khác nhau được quy định tại 3 Nghị định khác nhau trong khi trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ tư pháp hộ tịch tại các xã miền núi biên giới còn nhiều hạn chế, dẫn đến tình trạng tùy tiện, sai phạm trong việc cấp giấy tờ hộ tịch.

Từ những tồn tại, vướng mắc trên, để làm cho người dân khu vực miền núi, biên giới hiểu được đăng ký kết hôn không chỉ là nghĩa vụ phải thực hiện theo quy định của Nhà nước, mà còn là quyền của công dân nhằm đảm bảo lợi ích cho họ, từ đó góp phần hạn chế trường hợp nam, nữ Việt- Lào chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, cần phải làm tốt công tác tuyên truyền pháp luật, các quy định về đăng ký kết hôn ở khu vực biên giới rộng rãi trong nhân dân trên địa bàn, đặcbiệt chú trọng các thôn, bản sát biên giới. Đẩy mạnh công tác đối ngoại nhân dân, tích cực, chủ động nắm tình hình nội, ngoại biên, dự báo được tư tưởng, nguyện vọng của một số cư dân trong và ngoài biên giới, nắm được thực trạng vi phạm, có biện pháp đồng bộ để giải quyết vừa đúng luật, vừa mang tính nhân đạo, bảo vệ mối đoàn kết hữu nghị Việt- Lào và quyền con người của cư dân biên giới. Hướng dẫn cho công dân làm thủ tục được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Đối với các trường hợp công dân Lào sinh sống tại Việt Nam đã lâu, không có điều kiện trở về Lào để làm tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước láng giếng thì kiến nghị Bộ Tư pháp nên cho phép công dân đó làm bản cam kết cam đoan tình trạng hôn nhân của mình. Nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở, phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể liên quan vận động nam nữ Việt Nam - Lào dân tộc thiểu số chưa đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau đến UBND xã đăng ký kết hôn. Tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để người dân có thể đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật Việt Nam.

Nguyễn Thị Châu, Hội LHPN Quảng Trị

TÂM ĐIỂM

CÁC ĐỀ ÁN

Video