Khoảng cách giới trong công nghệ số trước bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
1. Đặt vấn đề
Hiện nay, nền kinh tế toàn cầu đang biến đổi một cách sâu rộng và toàn diện trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định tại Diễn đàn Quốc gia Phát triển Doanh nghiệp Công nghệ Số Việt Nam lần thứ VI năm 2025: “Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ số đã và đang khẳng định vai trò động lực chủ chốt, thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội. Chuyển đổi số không chỉ là một xu hướng tất yếu, mà còn là yêu cầu cấp thiết để Việt Nam thu hẹp khoảng cách phát triển với khu vực và thế giới. Điều này không chỉ mở ra cơ hội cải thiện năng suất lao động, mà còn tạo điều kiện để đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi tầng lớp nhân dân”. Về khía cạnh xã hội, công nghệ số là công cụ vô cùng cần thiết và hữu ích để nâng cao bình đẳng giới và quyền năng của phụ nữ đặc biệt thông qua tốc độ lan tỏa của truyền thông mạng xã hội.
Tuy nhiên, phụ nữ chỉ có thể thụ hưởng tối đa những lợi ích nói trên khi họ được tạo điều kiện tiếp cận và sử dụng công nghệ số một cách đầy đủ và hiệu quả. Trên thực tế, vẫn tồn tại khoảng cách giới trong công nghệ số mà trong đó bất lợi nghiêng về phụ nữ. Theo Báo cáo Khoảng cách giới di động năm 2023, tỷ lệ phụ nữ sở hữu một chiếc điện thoại di động ít hơn nam giới là 7% (tức là ít hơn nam 130 triệu người). Số liệu năm 2022 trên toàn thế giới cho thấy, nữ giới cũng sử dụng internet ít hơn nam giới với tỷ lệ 57% so với 62%. Khoảng cách giới trong tiếp cận internet ở các nước đang phát triển nhất cao nhất thế giới với 32,9%. Ở Đông Nam Á, phụ nữ sở hữu một chiếc điện thoại di động ít hơn nam giới 26%. Có thể thấy, nếu không được tiếp cận với công nghệ số một cách bình đẳng, phụ nữ và trẻ em gái sẽ không được hưởng các lợi ích từ lĩnh vực này, khó tham gia được vào xã hội số. Điều này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của họ và làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng giới trong tương lai. Nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trên mọi phương diện của đời sống xã hội.
Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội, đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước. Việc hỗ trợ phụ nữ tiếp cận công nghệ số và giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động đã được chú trọng trong nhiệm kỳ 2022-2027. Trong đó, “Đổi mới phương thức hoạt động Hội, trọng tâm là ứng dụng công nghệ thông tin” là một trong hai khâu đột phá của nhiệm kỳ. Liên quan đến hội viên phụ nữ, Hội đặt ra nhiệm vụ trọng tâm triển khai Chương trình hỗ trợ một triệu phụ nữ nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, tiếp cận Chính phủ số. Chủ đề công tác của năm 2024 của các cấp Hội là “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Hội”.
Bài viết sẽ giới thiệu kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp Bộ “Khoảng cách giới trong công nghệ số trước bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư” do Học viện Phụ nữ Việt Nam thực hiện nhằm tổng hợp một số vấn đề lý luận và thực tiễn về khoảng cách giới công nghệ số; phân tích thực trạng và một số nhân tố ảnh hưởng làm cơ sở đề xuất một số giải pháp thu hẹp khoảng cách giới trong công nghệ số, thiết thực góp phần thúc đẩy bình đẳng giới trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích giới để tìm hiểu sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong việc tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi từ công nghệ số. Cách tiếp cận định hướng nghiên cứu nhận diện sự khác biệt nhu cầu, khó khăn và cơ hội, ảnh hưởng của những khác biệt này đối với cuộc sống của phụ nữ và nam giới. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận bao trùm số (digital inclusion), đó là sự tiếp cận công bằng, có ý nghĩa và an toàn để sử dụng, dẫn dắt và thiết kế các công nghệ số, dịch vụ số và các cơ hội liên quan cho mọi người, ở mọi nơi. Sự bao trùm số được thực hiện bởi các chính sách nhân quyền, liên ngành và toàn xã hội và các cách tiếp cận và hành động của đa dạng các bên liên quan (multi-stakeholder), quan tâm đến các rào cản khác nhau mà cá nhân đối mặt khi tiếp cận và trải nghiệm công nghệ số.
Đối với các phương pháp nghiên cứu cụ thể, nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng bao gồm: Phương pháp phân tích tài liệu; phương pháp điều tra bằng bảng hỏi; phương pháp phỏng vấn sâu; phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp tọa đàm.
Đề tài khảo sát tại 3 tỉnh thuộc 3 miền Bắc, Trung, Nam là Bắc Kạn, Phú Yên và Cần Thơ - mỗi tỉnh có những đặc điểm riêng về phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là tốc độ phát triển công nghệ thông tin đang ở các mức độ khác nhau. Trong đó, Cần Thơ là địa phương có mức độ chuyển đổi số nằm trong nhóm dẫn đầu của cả nước, Phú Yên là tỉnh ở nhóm giữa và Bắc Kạn có mức độ chuyển đổi số thấp nhất. Ở mỗi tỉnh, đề tài khảo sát ở hai địa bàn thuộc khu vực thành thị và nông thôn.
Về phương pháp và cỡ mẫu nghiên cứu, đề tài đã sử dụng phương pháp phỏng vấn bảng hỏi với tổng số 409 phụ nữ và nam giới; thực hiện 20 cuộc phỏng vấn sâu, bao gồm 12 cuộc với phụ nữ, nam giới; 03 cuộc với lãnh đạo, cán bộ thuộc Sở Thông tin và truyền thông; 03 cuộc với đại diện lãnh đạo chính quyền cấp xã/phường; 02 cuộc với chuyên gia giới trong lĩnh vực công nghệ số. Nghiên cứu cũng thực hiện 06 cuộc thảo luận nhóm với sự tham gia của 48 phụ nữ và nam giới ở cấp xã/phường. Phương pháp tọa đàm được sử dụng để tổ chức 03 cuộc tại 3 tỉnh/thành với 45 đại biểu tham dự là đại diện lãnh đạo cấp ủy, UBND, Sở VHTTDL, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Giáo dục, Liên đoàn Lao động, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội Người cao tuổi.
Một số khái niệm cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu như sau:
Khoảng cách giới: Theo UNICEF (2017), khoảng cách giới là sự khác biệt không cân xứng giữa nam và nữ, trẻ em trai và trẻ em gái, đặc biệt được phản ánh trong việc đạt được các mục tiêu phát triển, tiếp cận các nguồn lực và các mức độ tham gia. Một khoảng cách giới biểu thị sự bất bình đẳng giới.
Công nghệ số: Theo Bộ Thông tin và Truyền thông (2021), công nghệ số được hiểu theo 2 nghĩa rộng và hẹp. Cụ thể, theo nghĩa rộng, công nghệ số là một trong các nhóm công nghệ chính của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với đại diện là công nghệ điện toán đám mây, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối, thực tế ảo… Còn theo nghĩa hẹp, công nghệ số là một bước phát triển cao hơn, là bước phát triển tiếp theo của công nghệ thông tin, cho phép tính toán nhanh hơn, xử lý dữ liệu nhiều hơn, truyền tải dung lượng lớn hơn, với chi phí rẻ hơn. Trong hai cách hiểu, cách hiểu theo nghĩa rộng có tính phổ biến hơn[1].
Công nghệ số còn gọi là công nghệ kỹ thuật số bao gồm tất cả các công cụ, thiết bị điện tử, hệ thống tự động, thiết bị công nghệ và tài nguyên tạo ra, xử lý hoặc lưu trữ thông tin trong các lĩnh vực khác nhau. Những ví dụ dễ thấy nhất cho công nghệ kỹ thuật số là ở khía cạnh xây dựng phần mềm: các phương tiện truyền thông đa phương tiện, mạng xã hội, nền tảng thương mại điện tử, dịch vụ mua sắm, thanh toán trực tuyến, các trò chơi trực tuyến. Bên cạnh đó, công nghệ kỹ thuật số còn gắn liền với sự phát triển phần cứng như các thiết bị di động (smartphone, tablet, laptop), hệ thống tự động hóa, robot, VR/VA... Việc lưu trữ, xử lý dữ liệu thông tin (Data), Big Data, Điện toán đám mây (Cloud), tiền kỹ thuật số (Cryptocurrency) hay Blockchain cũng là những ví dụ điển hình của công nghệ kỹ thuật số trong bức tranh công nghệ số hiện nay.
Trong nghiên cứu này, việc tiếp cận công nghệ số được giới hạn ở khía cạnh phần cứng như một số thiết bị di động phổ biến như smartphone, table, ipad, laptop, việc sử dụng một số phần mềm như mạng xã hội, nền tảng thương mại điện tử, dịch vụ mua sắm, thanh toán trực tuyến, các trò chơi trực tuyến…
Khoảng cách giới trong công nghệ số: Khoảng cách giới trong công nghệ số là sự khác biệt về khả năng tiếp cận, sử dụng internet và các công nghệ số cũng như sự đóng góp và hưởng lợi của nam và nữ từ sự phát triển của công nghệ số[2]. Nghiên cứu này xem xét sự khác biệt nói trên giữa nam và nữ ở mức độ nào và trong vấn đề tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi từ công nghệ số, nam hay nữ có lợi thế hơn, sự chênh lệch này ở mức độ nào.
Theo Reiko và cộng sự (2019)[3], khoảng cách giới trong công nghệ số có thể bao gồm ba khía cạnh: (1) sự tiếp cận và sử dụng các công nghệ số và internet; (2) sự phát triển các kỹ năng cần thiết để sử dụng công nghệ số và tham gia vào quá trình thiết kế và sản xuất công nghệ số; (3) bước tiến của phụ nữ ở vị trí lãnh đạo và vai trò ra quyết định trong lĩnh vực số. Tuy nhiên trong nghiên cứu này, khoảng cách giới trong công nghệ số được xem xét ở ba góc độ: sự tiếp cận; sử dụng và hưởng lợi từ công nghệ số.
Sự tiếp cận công nghệ số
Nói đến khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu quả công nghệ và nguồn lực số của các cá nhân và các nhóm. Điều này bao gồm các khía cạnh khác nhau như tiếp cận internet, máy tính, điện thoại thông minh và các dịch vụ số[4]. Tiếp cận công nghệ số đề cập đến việc có phương tiện và cơ hội sử dụng các thiết bị và nguồn lực kỹ thuật số. Điều này bao gồm việc có phần cứng cần thiết (máy tính, điện thoại thông minh, v.v.), phần mềm, kết nối internet và các kỹ năng hoặc trình độ học vấn để hiểu cách sử dụng các công cụ này. Sự tiếp cận công nghệ số ở đây được quan tâm dưới các khía cạnh như việc sở hữu các thiết bị công nghệ số hoặc có khả năng sử dụng các thiết bị công nghệ số của người khác.
Sử dụng công nghệ số
Theo Từ điển tiếng Việt, "sử dụng" là động từ mang nghĩa "lấy làm phương tiện để phục vụ nhu cầu, mục đích nào đó" và đồng nghĩa với "dùng". Trong lĩnh vực chuyển đổi số, sử dụng được hiểu là hành động thực hiện, vận hành một vật dụng, thiết bị, hay hệ thống để hoàn thành một mục đích cụ thể. Hành động này mang tính chủ động, có ý thức và hướng đến mục tiêu nhất định, bao gồm nhiều cấp độ từ đơn giản đến phức tạp, từ cá nhân đến tập thể (Báo cáo Chuyển đổi số Quốc gia năm 2022).
Hưởng lợi từ công nghệ số
Hưởng lợi từ công nghệ số là việc một chủ thể nhận được những lợi ích vật chất hoặc phi vật chất nhờ sử dụng công nghệ số. Do đó, chủ thể chỉ có thể nhận được các lợi ích khi có sự tiếp cận và sử dụng công nghệ số.
3. Kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu đã tìm hiểu khoảng cách giới trong công nghệ số dưới ở các khía cạnh bao gồm: tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi. Phần dưới đây sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu theo các góc độ nói trên.
3.1. Khoảng cách giới trong tiếp cận công nghệ số
Trong 409 người tham gia khảo sát, số lượng thiết bị công nghệ số trung bình mà họ sở hữu là 2,7 thiết bị. Có sự khác biệt giữa hai giới về số lượng thiết bị công nghệ được sở hữu nhưng không lớn (cụ thể nam giới sở hữu 2,7 và nữ giới là 2,6). Loại thiết bị được sử dụng nhiều nhất là điện thoại thông minh (86,1%). Không có sự khác biệt lớn giữa hai giới về thiết bị được sử dụng thường xuyên nhất. Theo đó, điện thoại thông minh được sử dụng thường xuyên nhất và chiếm tỷ lệ cao ở cả hai giới (nam 87,3% và nữ 85,5%).
Hầu hết khách thể nghiên cứu truy cập mạng internet qua mạng gia đình có trả phí (mạng dây và không dây) với tỷ lệ 97,5%. Bên cạnh đó, đa số người tham gia khảo sát (chiếm 77,9%) còn đăng ký mạng 3G/4G/5G và truy cập internet. Ngoài ra, họ cũng tận dụng mạng công cộng miễn phí như nơi làm việc, nơi công cộng… với 65.0%.
Mạng dây và mạng không dây của gia đình có trả phí là nguồn truy cập phổ biến nhất, với tỷ lệ tương đồng giữa nam (97.8%) và nữ (97.3%). Mạng 3G/4G/5G có trả phí cũng phổ biến, nhưng nam giới sử dụng nhiều hơn nữ (81.5% so với 75.1%).
Người dân ở các địa bàn khảo sát đánh giá khá tốt tính ổn định của các thiết bị số họ đang sử dụng, với điểm trung bình là 4,31 trên thang 5 điểm. Sau đó là tính an toàn của địa điểm sử dụng thiết bị số (4,23), tính an toàn của địa điểm truy cập mạng internet (4,12), tính ổn định của mạng internet mà họ dùng (3,98) và cuối cùng là tốc độ, sự truy cập nhanh chóng (3,95).
Bảng 1. Đánh giá về chất lượng của thiết bị số
và mạng internet thường dùng nhất theo giới tính
| Chất lượng thiết bị công nghệ số | Giới tính | N | ĐTB | ĐLC |
| Thiết bị số tôi thường sử dụng có chất lượng tốt, dùng ổn định | Nam | 180 | 4,33 | 0,98 |
| Nữ | 228 | 4,29 | 0,93 | |
| Mạng internet tôi thường sử dụng ổn định, không bị trục trặc | Nam | 180 | 4,06 | 1,04 |
| Nữ | 228 | 3,91 | 1,09 | |
| Mạng internet tôi thường sử dụng có tốc độ cao, truy cập nhanh chóng | Nam | 180 | 4,04 | 1,10 |
| Nữ | 228 | 3,88 | 1,09 | |
| Địa điểm tôi sử dụng thiết bị số (điện thoại, máy tính, laptop..) thuận tiện, an toàn cho tôi | Nam | 181 | 4,25 | 1,01 |
| Nữ | 228 | 4,21 | 1,04 | |
| Địa điểm tôi thường truy cập mạng internet (mạng dây, .) thuận tiện, an toàn cho tôi | Nam | 180 | 4,14 | 1,10 |
| Nữ | 228 | 4,10 | 1,14 |
Nam đánh giá mạng internet của mình ổn định và tốc độ nhanh hơn so với nữ, với điểm trung bình cao hơn (4.06 so với 3.91; 4.04 so với 3.88). Mặc dù khoảng cách giới trong tiếp cận công nghệ số giữa nam và nữ không quá lớn, nhưng nam có xu hướng có trải nghiệm tốt hơn về các yếu tố như sự ổn định và tốc độ của mạng internet, cũng như các yếu tố về địa điểm sử dụng thiết bị số và truy cập mạng.
Sự tiếp cận công nghệ số còn được bao hàm phản ánh thông qua khả năng chi trả cho thiết bị công nghệ số và mạng internet của người sử dụng. Nhìn chung, người dân ở các địa bàn khảo sát đều có khả năng chi trả cho các thiết bị công nghệ số và sử dụng internet. So sánh theo giới tính, nữ có xu hướng chi trả cao hơn một chút cho một số yếu tố như sử dụng mạng internet và khả năng chi trả cho chi phí bảo dưỡng thiết bị. Nam giới có khả năng chi trả cao cho các mạng di động 3G/4G/5G.
3.2. Khoảng cách giới trong sử dụng công nghệ số
* Mức độ sử dụng các thiết bị số
Kết quả khảo sát cho thấy, các thiết bị di động như điện thoại thông minh, tivi thông minh có mức sử dụng cao (ĐTB > 4 điểm). Nhóm thiết bị khác như máy đọc sách, máy chơi trò chơi, máy ảnh kỹ thuật số có mức độ sử dụng khá thấp. Trong đó, điện thoại thông minh là thiết bị có mức độ sử dụng cao nhất và vượt trội so với các thiết bị khác (ĐTB 4,86). Nữ sử dụng điện thoại thông minh nhiều hơn một chút so với nam giới (ĐTB là 4,91 ở nữ so với 4,79 ở nam). Nam giới sử dụng các máy trò chơi, nam sử dụng nhiều hơn nữ (ĐTB 1,35 nam và 1,21 ở nữ). Mức độ sử dụng mạng internet của người tham gia khảo sát ở mức rất cao 95,1% sử dụng ở mức hàng ngày.
Nguồn: Kết quả khảo sát đề tài 2024
Biểu 1. Mức độ sử dụng các thiết bị công nghệ số theo giới tính
(Đơn vị tính: Điểm trung bình)
Số giờ trung bình sử dụng các thiết bị số có kết nối internet là tương đối cao (ĐTB = 7,2 giờ mỗi ngày) cho thấy mức độ người tham gia khảo sát phụ thuộc tương đối nhiều vào các thiết bị công nghệ có kết nối internet trong cuộc sống hàng ngày.
* Về mục đích sử dụng các thiết bị công nghệ số
Kết quả khảo sát cho thấy, 97,1% người tham gia khảo sát sử dụng thiết bị công nghệ số cho những mục đích cơ bản của cuộc sống hàng ngày như kết nối và giao tiếp với người khác như gọi điện, nhắn tin. Cụ thể, giải trí chiếm (92.4%), học tập chiếm (89%), và mua sắm trực tuyến (74.8%) cũng chiếm tỷ lệ cao. Ngược lại, các mục đích như sáng tạo nội dung (34%), kinh doanh online (34.7%) có tỷ lệ thấp hơn.
So sánh theo giới tính, nữ giới có xu hướng sử dụng thiết bị số nhiều hơn so với nam trong một số mục đích nhất định như giải trí, kết nối và giao tiếp, mua sắm trực tuyến, thanh toán điện tử và chăm sóc sức khỏe. Nam giới có mức độ sử dụng cao hơn trong một số mục đích như đọc báo/tin tức, học tập phát triển bản thân, thực hiện thủ tục hành chính, tham gia hoạt động xã hội, cộng đồng và đi du lịch.
Ứng dụng mạng xã hội và tin nhắn có tỷ lệ sử dụng cao nhất với tỷ lệ sử dụng lần lượt là 92,9% (Facebook, TikTok, Instagram) và 95,8% (Zalo, Messenger, Viber, Whatsapp).
Về kỹ năng số, người khảo sát có mức thành thạo cao ở một số kỹ năng cơ bản như bật/tắt thiết bị số, tìm kiếm thông tin trên internet và quản lý ứng dụng/phần mềm. Nhóm kỹ năng có mức độ thành thạo trung bình bao gồm gửi/nhận email, quản lý file/thư mục, bảo vệ dữ liệu cá nhân nhưng có sự phân tán giữa các nhóm khảo sát. Nhóm kỹ năng có mức độ thành thạo thấp như kỹ năng như biên tập nội dung trực tuyến, thiết kế đồ họa, và chỉnh sửa ảnh/video có điểm trung bình thấp hơn. So sánh theo giới tính, nam giới thường có mức điểm cao hơn trong các kỹ năng liên quan đến công cụ chuyên dụng, phần mềm, thiết kế đồ họa và chỉnh sửa ảnh/video, trong khi nữ giới có xu hướng sử dụng các kỹ năng cơ bản liên quan đến việc sử dụng thiết bị và bảo vệ dữ liệu ở mức độ tốt hơn.
* Khó khăn khi sử dụng công nghệ số
Kết quả nghiên cứu cho thấy, những người tham gia khảo sát phải đối mặt với nhiều khó khăn ảnh hưởng đến khả năng sử dụng và tiếp cận các công nghệ này, bao gồm: nguy cơ mất an toàn trên không gian mạng (46%); thiếu kiến thức kỹ năng số (24,2%); không có tiền mua thiết bị (19,1%) và các thiết kế khó sử dụng (19,1%).
Phụ nữ gặp nhiều khó khăn hơn nam giới khi sử dụng các thiết bị công nghệ số, trong đó, khó khăn lớn nhất mà họ lo lắng khi sử dụng thiết bị công nghệ số là nguy cơ mất an toàn trên không gian mạng (với 52,6%, so với tỷ lệ này ở nam là 37,6%). Tỷ lệ gặp khó khăn trong thiếu kiến thức về kỹ năng số ở nữ cũng cao hơn nam (lần lượt là 27,6% ở nữ và 19,9% ở nam). Nữ cũng gặp khó khăn hơn nam giới trong việc sử dụng các thiết bị công nghệ số (nữ 20,6% - nam 17,1%); thiếu hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng khi sử dụng công nghệ (nữ 7,0% - nam 3,3%). Điều này có thể phản ánh sự thiếu hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình hoặc cộng đồng, đặc biệt là khi phụ nữ gặp khó khăn với các vấn đề công nghệ, do có thể thiếu người thân có kiến thức kỹ thuật hoặc chuyên môn hỗ trợ.
3.3. Khoảng cách giới trong hưởng lợi từ công nghệ số
Có thể thấy, công nghệ số đã mang đến cho người sử dụng đa dạng các lợi ích thuộc mọi khía cạnh của đời sống. Nghiên cứu đã đưa ra các nhận định về 12 lợi ích cơ bản của công nghệ số và kết quả khảo sát thể hiện sự đồng tình cao của người trả lời với các nhận định đó, với ĐTB chung là 4,16. Điều này chứng tỏ công nghệ số có những ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống của nhiều người. Trong các lợi ích, công nghệ số đã giúp người sử dụng liên lạc, duy trì mối quan hệ đang có và có thêm các mối quan hệ cũng như giúp tìm kiếm, tiếp cận thông tin dễ dàng, nhanh chóng, đa dạng được đánh giá cao nhất với ĐTB 4,67 và 4,66. Bên cạnh đó, công nghệ số đã giúp nhiều người nâng cao kiến thức, kỹ năng nói chung bao gồm kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, với ĐTB là 4,54. Tuy nhiên, kết quả khảo sát của nghiên cứu này chỉ ra một số lợi ích từ công nghệ số được thụ hưởng ở mức độ thấp hơn, liên quan đến thu nhập, chăm sóc sức khỏe và cơ hội nghề nghiệp với ĐTB lần lượt là 3,4; 3,76 và 3,83. Trong đó, lợi ích giúp nâng cao thu nhập có ĐTB thấp nhất với 3,4 điểm. Lý do có thể là mẫu nghiên cứu tập trung vào các nhóm khách thể như: công chức, viên chức; nông dân; công nhân... nên họ ít sử dụng công nghệ số như phương tiện chính để tăng cường thu nhập như nhóm bán hàng, kinh doanh qua mạng. Việc chăm sóc sức khỏe qua dịch vụ khám chữa bệnh trực tuyến, tập luyện trực tuyến và các ứng dụng theo dõi sức khỏe chưa thành thói quen của nhiều người sử dụng công nghệ số. Do đó, họ chưa thực sự thấy được lợi ích này từ công nghệ số.
4. Đề xuất giải pháp, khuyến nghị
Dựa trên cơ sở lý luận, và các phát hiện trong quá trình khảo sát thực tiễn, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách giới trong công nghệ số, cụ thể như sau:
Thứ nhất, mặc dù các văn bản chính sách, luật pháp về chuyển đổi số ở nước ta khá đa dạng và tương đối đầy đủ thể hiện sự quan tâm của Nhà nước ta đối với vấn đề này. Người dân được đề cập với chủ yếu với vai trò là người thụ hưởng chính sách chuyển đổi số. Tuy nhiên, các quy định nói trên cần thiết phải có sự lồng ghép giới để nhận diện các khó khăn, thách thức và nhu cầu của phụ nữ, nhất là phụ nữ yếu thế như thuộc hộ nghèo, ở vùng sâu, vùng xa, nơi cơ sở hạ tầng và trình độ dân trí còn hạn chế. Chỉ có như vậy, các nhóm phụ nữ yếu thế mới có cơ hội, điều kiện để thụ hưởng thành quả từ quá trình chuyển đổi số mang lại.
Thứ hai, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về công cuộc chuyển đổi số để họ thấy rõ hơn lợi ích của chuyển đổi số đối với đời sống cũng như vai trò, trách nhiệm của bản thân trong góp phần thực hiện công cuộc này. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra nỗi sợ công nghệ là một nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách giới trong công nghệ số, đặc biệt là đối với phụ nữ. Do đó, việc nâng cao nhận thức giúp người dân có sự hiểu biết đúng đắn, tránh được những nghi ngờ, e ngại khi tham gia vào các hoạt động chuyển đổi số. Đặc biệt, cần tăng cường tuyền truyền và thay đổi nhận thức về vai trò của phụ nữ trong công nghệ. Trong đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp nên tổ chức hoạt động truyền thông theo các hình thức và nội dung chẳng hạn: Lồng ghép vào các cuộc sinh hoạt thường kỳ; Tổ chức sinh hoạt chuyên đề, hội thảo, hội nghị, đăng tải các ấn phẩm truyền thông trong các phương tiện truyền thông đại chúng của hệ thống Hội; phát hành tài liệu, tờ rơi; Tổ chức các chiến dịch truyền thông về vai trò của phụ nữ trong chuyển đổi số và kinh tế số cần được đẩy mạnh. Điều này không chỉ giúp phụ nữ tự tin hơn trong việc tiếp cận công nghệ mà còn thay đổi nhận thức của xã hội về vai trò của phụ nữ trong thời đại số.
Thứ ba, chính quyền các địa phương cần tổ chức các chương trình đào tạo kỹ năng số cho người dân vì một trong nhiều khó khăn phổ biến của những người tham gia khảo sát và đặc biệt là phụ nữ là thiếu kiến thức, kỹ năng số. Do đó, việc tổ chức các lớp tập huấn dễ tiếp cận cho người dân là giải pháp cần thiết để giúp họ tận dụng hiệu quả hơn các lợi ích của công nghệ số. Đối với phụ nữ, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp nên xây dựng và tổ chức các chương trình nâng cao năng lực số cho hội viên, phụ nữ, chẳng hạn: kỹ năng sử dụng phần mềm, thiết bị máy tính, điện thoại thông minh; các ứng dụng hữu ích cho công việc và gia đình. Bên cạnh đó, cần có các chương trình đào tạo riêng cho phụ nữ tại các vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa.
Thứ tư, các cơ quan hữu quan cần có giải pháp tích cực và hiệu quả để giúp người dân tránh được các rủi ro mất an toàn trên không gian mạng. So với nam, nữ giới gặp khó khăn nhiều hơn về an toàn mạng, dễ gặp các rủi ro nhiều hơn và điều này cản trở họ tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi từ công nghệ số. Do đó, cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cũng như kiến thức phòng tránh các nguy cơ mất an toàn trên không gian mạng cho phụ nữ giúp quá trình tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi của họ thuận lợi hơn.
Thứ năm, Hội phụ nữ các cấp tiếp tục phát triển các chương trình hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp và kinh doanh trực tuyến: Cần có các chính sách hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp trưc tuyến đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ do phụ nữ làm chủ. Hỗ trợ về kiến thức quản lý, marketing số và kỹ năng tài chính sẽ giúp phụ nữ tận dụng tốt hơn các cơ hội từ nền kinh tế số. Kết quá nghiên cứu của đề tài cho thấy, so với nam giới, phụ nữ chưa tận dụng tốt công nghệ số cho việc mở rộng cơ hội nghề nghiệp và tăng thu nhập.
Thứ sáu, theo kết quả nghiên cứu, khoảng cách giới trong công nghệ số không chỉ đề cập đến sự khác biệt giới mà đi kèm với các đặc điểm xã hội như trình độ học vấn, khu vực sinh sống, tuổi tác… Do đó, cần có những chính sách ưu tiên và các hoạt động hỗ trợ cụ thể cho phụ nữ ở các vùng miền có điều kiện kinh tế khó khăn, phụ nữ cao tuổi, có trình độ học vấn thấp, thuộc hộ nghèo. Chẳng hạn, các chương trình hỗ trợ tài chính và cung cấp thiết bị công nghệ giá rẻ sẽ là cần thiết để tạo cơ hội để họ tiếp cận công nghệ. Các hoạt động của Hội Phụ nữ liên quan đến chuyển đổi số nên chú ý hơn đến sự tiếp cận của các nhóm đối tượng này.
5. Kết luận
Đối với khoảng cách giới trong tiếp cận công nghệ số
Người dân ở các địa bàn khảo sát có sự tiếp cận công nghệ số tương đối tốt trong bối cảnh chủ trương chuyển đổi số được các cấp, các ngành quan tâm và triển khai sâu rộng trên mọi lĩnh vực. Điều đáng mừng là gần như không có khoảng cách giới về số lượng các thiết bị số mà nam giới và phụ nữ sở hữu cũng như số lượng các thiết bị số mà họ có thể sử dụng của người khác. Tuy nhiên, khoảng cách trong vấn đề này được nhìn thấy rõ ràng hơn ở địa bàn nông thôn của tỉnh Phú Yên. Loại hình mạng internet được truy cập phổ biến nhất là qua mạng gia đình có trả phí (bao gồm mạng dây và wifi). Tuy nhiên, có khoảng cách giới trong sử dụng mạng 3G/4G/5G trong đó nam giới sử dụng nhiều hơn phụ nữ. Mặc dù sự khác biệt giới trong đánh giá chất lượng thiết bị số và mạng internet không lớn, nam giới dường như có trải nghiệm tốt hơn về sự ổn định, tốc độ mạng hơn nữ giới. Trong đó, nữ có khả năng chi trả cho việc sử dụng mạng internet và chi phí bảo dưỡng thiết bị cao hơn nam giới. Ngược lại, nam giới có khả năng chi trả nhiều hơn nữ cho chi phí các mạng di động 3G/4G/5G.
Về khoảng cách giới trong sử dụng công nghệ số
Nữ giới có xu hướng sử dụng điện thoại thông minh nhiều hơn nam giới. Mục đích khách thể sử dụng thiết bị số chủ yếu cho việc kết nối và giao tiếp, giải trí, học tập và mua sắm trực tuyến. Trong đó, nữ giới và người dân khu vực thành thị có xu hướng sử dụng công nghệ nhiều hơn nam giới và nhóm nông thôn trong các hoạt động giải trí, mua sắm trực tuyến và thanh toán điện tử. Có sự khác biệt giới trong thói quen sử dụng các ứng dụng, cụ thể, nữ giới thường dùng ứng dụng mạng xã hội, tin nhắn, ngân hàng trực tuyến nhiều hơn nam giới, trong khi nam giới có xu hướng sử dụng các ứng dụng học tập, năng suất, quản lý thời gian và bản đồ du lịch nhiều hơn.
Về khoảng cách giới trong thụ hưởng lợi ích từ công nghệ số
Lợi ích nổi bật nhất là công nghệ số đã giúp người sử dụng liên lạc, duy trì mối quan hệ đang có và có thêm các mối quan hệ cũng như giúp tìm kiếm, tiếp cận thông tin dễ dàng, nhanh chóng, đa dạng. So với phụ nữ, đánh giá của nam giới về lợi ích của công nghệ số giúp họ tăng thu nhập tốt hơn. Trong khi đó, nữ giới dường như nhận được các lợi ích như chăm sóc sức khỏe thể chất và tận hưởng sự thư giãn, giải trí, nâng cao đời sống tinh thần nhiều hơn nam giới./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ Thông tin và Truyền thông (2021), Cẩm nang chuyển đổi số, Nx Thông tin và Truyền thông
- https://gddindex.com/
- Reiko K., Mariana L., Janelle S., Michelle S. (2019). Digital gender gap. Policy Brief.
- https://userway.org/blog/digital-access/#:~:text=Digital%20access%20refers%20to%20the,%2C%20software%2C%20and%20digital%20service
- Unicef (2017). Glossary of Terms and Concepts
- https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-dien-dan-quoc-gia-phat-trien-doanh-nghiep-cong-nghe-so-viet-nam-lan-thu-vi-102250115153557723.htm
[1]Bộ Thông tin và Truyền thông (2021), Cẩm nang chuyển đổi số, Nxb Thông tin và Truyền thông.
[2] https://gddindex.com/
[3] Reiko K., Mariana L., Janelle S., Michelle S (2019), Digital gender gap, Policy Brief.
[4]https://userway.org/blog/digitalaccess/#:~:text=Digital%20access%20refers%20to%20the,%2C%20software%2C%20and%20digital%20service
